Thứ Năm, 14 tháng 3, 2019

Đánh giá đồng hồ Casio World Time AE-1200WHD-1AVDF - Liệu có nên mua không?

Cũng giống như nhiều anh em khác, mình tìm đến với chiếc đồng hồ Casio World Time AE1200WHD (hay AE-1200WHD-1AVDF) cũng bởi sự tò mò. Còn nhớ, cách đây khoảng nửa năm khi cầm trên tay chiếc đồng hồ này thì nó đã quá nổi tiếng tại thị trường Việt Nam rồi. Trên khắp các diễn đàn công nghệ trong nước, cứ nghe nhắc đến AE1200WHD là anh em nào cũng tấm tắc khen, một số anh em thì ao ước được trên tay sở hữu một lần. Mình để ý, trong một số clip ca nhạc hay phim ngắn các nhân vật nam chính cũng diện mẫu đồng hồ này. Thật sự mà nói, trước đó khi chỉ nhìn qua hình ảnh mình bị hấp dẫn bởi trào lưu của số đông là chính. Chứng tỏ, để làm nên sự thành công cho thiết kế Casio này, cộng đồng công nghệ Việt có công lăng xê không hề nhỏ chút nào.

Casio AE-1200WHD-1AVDF

XEM GIÁ TẠI SENDO

Và sau đây là đánh giá của cá nhân mình sau khi đeo mẫu đồng hồ này hơn nửa năm qua.

Có thể nói là ít có thiết kế đồng hồ giá rẻ nào mà lại gây được ấn tượng mạnh như Casio AE-1200WHD. Cảm giác đầu tiên là khi đeo lên tay rất nhẹ. Với một người tay hơi nhỏ như mình khi đeo đồng hồ dây kim loại rất hay bị xô lệch sang một bên vì sức nặng đồng hồ. Nhưng với Casio AE1200WHD rất nhẹ nhàng và ôm tay (mình cũng thay dây kim loại thành dây da rồi), đeo đồng hồ mà cứ như không.

Ấn tượng thứ hai là thiết kế: Mình đặc biệt thích phần cửa sổ đồng hồ analog ở góc bên trái. Tuy chức năng này ít hữu ích để xem giờ cho nhiều người nhưng nó làm người ta liên tưởng đến những chiếc smartwatch thời thượng. Nhưng khi để ý kĩ đến cử động của chiếc kim giây (chấm màu đen di chuyển liên tục) sẽ khiến bạn nhớ đến chiếc đồng hồ cơ truyền thống với 3 kim.

Điểm cộng thứ 3 về thiết kế mà mình chấm là mặt đồng hồ dạng hình vuông được bo vát 4 góc. Theo mình nghĩ kiểu thiết kế này đủ tạo ra sự góc cạnh vừa phải, vừa toát lên vẻ hiện đại và trẻ trung cho mặt đồng hồ khi kết hợp vói phần vỏ nhựa được mạ bạc. Nếu không để ý, chắc chắn nhiều người sẽ bị nhầm phần vỏ trắng bạc này là kim loại. Ngoài ra, đồng hồ trang bị 4 nút điều chỉnh đối xứng ở hai bên rất dễ thao tác, cách sử dụng thì không khác gì so với huyền thoại Casio F-91W trước đây. Nhìn sơ bộ, Casio AE1200WHD mang hình hài của một chiếc đồng hồ vỏ nhựa nhưng vẫn thể hiện sự mạnh mẽ, cứng cáp, nam tính và không kém phần lịch lãm khi anh em diện với ống thun, quần jeans hay cả với đồ công sở.

3 sự thật “phũ phàng” về Casio World Time AE1200WHD-1AVDF

Không biết, với cảm nhận của mình vừa nêu trên đây nếu anh em đọc tiếp những sự thật này có làm mọi người mất hứng. Nhưng dù không muốn mình cũng sẽ nhắc qua một vài điều.

+ Casio AE1200WHD chỉ nổi tiếng ở tại Việt Nam: Sự thật này có làm anh em hụt hẫng. Nhưng đúng là mẫu đồng hồ này không thần thánh như người anh em F-91W trước đây nổi tiếng trên toàn cầu. Thực tế, mẫu đồng hồ này chỉ nổi tại Việt Nam và một vài nước đang phát triển thôi (có thể vì quá rẻ). Tại Việt Nam, dù hãng giới thiệu từ năm 2012, nhưng kể từ khi sản phẩm này có mặt nhiều ở thị trường trong nước, đã có một trào lưu sùng bái mẫu đồng hồ này đến điên đảo. Đi đâu cũng thấy người đeo AE1200WHD, xem đâu cũng thấy nói về AE1200WHD. Một số người còn phong cho nó là mẫu đồng hồ soái ca. Điều này cho thấy nó nổi tiếng đến mức nào.

Đồng hồ Casio AE1200WHD-1AVDF

+ Best sale tại Việt Nam trong 2 năm qua: Một thông tin nữa sẽ khiến bạn bất ngờ đó là mẫu đồng hồ nằm trong top đồng hồ bán chạy nhất Việt Nam trong năm 2017 và 2018. Theo một số cửa hàng bán AE1200WHD-1AVDF như Hải Triều, Casio Việt Nam cho biết mẫu thiết kế này thường xuyên cháy hàng trên kệ, điều này nói lên độ hot của nó như thế nào rồi.

+ Dây kim loại nguyên bản không thật sự ấn tượng: Cá nhân mình khi mới mua AE1200WHD và thử dây thì thấy hơi lỏng lẽo và không được chắc chắn như mong đợi. Một số anh em nhận xét là dây kim loại này dễ bị xước dăm sau khi đeo trên tay một thời gian.

Ưu điểm của đồng hồ Casio World Time AE1200WHD

Ưu điểm Casio AE-1200WHD-1AVDF

+ Thiết kế mặt hình vuông vát 4 góc rất hiện đại, trẻ trung và thời trang.

+ Màn hình điện tử chính kích thước lớn, giúp dễ dàng xem giờ giấc, ở mọi góc độ đều quan sát thời gian khá rõ không bị lóa mắt.

+ Sự kết hợp giữa màu đen và trắng của mặt đồng hồ tạo nên sự đơn giản và ăn ý, người đeo có thể phối được với nhiều loại đồ, dù nam hay nữ đều đeo được.

+ Trọng lượng nhẹ, size mặt khoảng 42mm phù hợp với những người cổ tay vừa và nhỏ của người Việt.

Có nên mua Casio AE-1200WHD-1AVDF

+ Trang bị tính năng World time hiển thị múi giờ thế giới: Xem được 48 thành phố khác nhau, thuận tiện khi bạn đi công tác hay du lịch ở nước ngoài

+ Đa tính năng : Lịch thứ, ngày tháng, múi giờ và bản đồ thế giới, bấm giờ thể thao, báo thức (5 khung giờ), đèn LED, mô phỏng đồng hồ analog (kim giây đang chạy)

+ Pin trâu: Pin CR2025 có tuổi thọ 10 năm theo nhà sản xuất giới thiệu, một con số lý tưởng.

+ Độ chính xác: Sai số chỉ khoảng +/-30s/tháng

+ Độ chống nước: 10BAR tương ứng 100m cho phép bạn thoải mái đi mưa, thậm chí là đi bơi.

+ Mức giá rẻ : Với giá chỉ hơn 1 triệu đồng có thể nói là cực kì tốt và phải chăng cho một chiếc đồng hồ khỏe khoắn, thời trang lại tích hợp nhiều chức năng như AE1200WHD.

+ Dễ sử dụng: Trang bị 4 nút bấm Mode, Adjust, Light, Search ở bốn góc, bạn chỉ cần 5-10 phút để thành thục cách điều chỉnh.

Casio AE-1200WHD-1AVDF dây da Handmade
Casio AE-1200WHD-1AVDF dây da phong cách (Ảnh: Tinhte.vn)

+ Khi thay dây kim loại bằng dây da trông rất hợp, tôn thêm vẻ hấp dẫn và sang trọng cho thiết kế này. Sự kết hợp giữa AE1200WHD và dây da handmade trên diễn đàn tinhte.vn đã tạo nên một cơn sốt, hay là một làn sóng cực hot trên cộng đồng mạng, thu hút nhiều bạn trẻ đứng ngồi không yên phải tìm mua chiếc đồng hồ này cho bằng được.

Nhược điểm

Cùng với những ưu điểm trên, mẫu thiết kế này vẫn có một vài điểm trừ mà đa số anh em không ưng ý, đó là: Vỏ nhựa, hơi nhẹ – đeo không đầm tay, dây kim loại dễ xước, mặt đồng hồ bằng nhựa chóng chầy khi sử dụng. Một số người hiến kế dán kính cường lực lên mặt số, ý kiến hay nhưng ảnh hưởng ít nhiều đến khả năng kháng nước và chống bụi bám.

Bên cạnh Casio AE-1200WHD-1AVDF, còn có hai phiên bản Casio AE-1200WH-1BVDF mặt màu đen – dây cao su và Casio AE-1200WHB-3BVDF màu xanh quân đội – dây dù:

Casio AE-1200WH-1BVDF
Phiên bản Casio AE-1200WH-1BVDF mặt đen, dây cao su

Casio AE-1200WHB-3BVDF xanh quân đội - dây dù
Phiên bản Casio AE-1200WHB-3BVDF xanh quân đội

XEM TẤT CẢ TẠI SHOPEE

Có nên mua đồng hồ Casio World Time AE1200WHD không?

+ Nếu anh em sợ sau một thời gian đeo phần mặt bị xước thì nên cân nhắc. Có người còn nói nhìn mẫu đồng hồ này hơi trẻ con, mình thì không nghĩ vậy.

Thay dây da Casio AE-1200WHD-1AVDF

+ Nếu anh em thích đổi gió có thể lựa chọn sự cá tính, trẻ trung và mạnh mẽ của mẫu đồng hồ Nhật Bản này thì không cần do dự gì nhiều. Mua thêm dây da handmade để thay dây, lưu ý là phải chế dây (18mm – 25mm) để có thể lắp vừa đồng hồ, do mẫu đồng hồ này không có cở dây da tiêu chuẩn phù hợp.

Mua đồng hồ Casio World Time AE1200WHD ở đâu?

Hiện nay mẫu đồng hồ này được bán ở các cửa hàng là đại lý của hãng Casio qua nhà phân phối Anh Khuê Sài Gòn. Để tiện lợi nhất và mua được đúng sản phẩm chính hãng, bạn có thể đăng ký mua tại Shopee theo đường link dưới đây:

XEM TẤT CẢ TẠI SHOPEE

Thứ Năm, 28 tháng 2, 2019

Đánh giá Cốm vi sinh Nutribaby - Tất tần tật về sản phẩm này cha mẹ nên biết!

Chắc chắn nhiều mẹ sẽ đồng ý với nhận định này: Có con nhỏ mắc chứng biếng ăn quả là áp lực và lo lắng. Vào mỗi bữa ăn, bé sợ ăn nên tìm cách chống đối (con ngậm thức ăn, không chịu nuốt, nhè ra nhà..) khiến mẹ trở nên bất lực và đôi lúc nóng nảy quát tháo, hai mẹ con như đang đánh vật với nhau. Có phải vậy không?

Trẻ biếng ăn

Nhưng thật ra để khắc phục tình trạng biếng ăn của trẻ không khó như nhiều phụ huynh vẫn nghĩ.

Điều quan trọng là cha mẹ chọn được giải pháp tốt nhất và dễ áp dụng nhất cho con mình.

Bài viết này sẽ giới thiệu một loại thực phẩm chức năng (TPCN) không chỉ trị biếng ăn, bé ăn ngon hơn mà còn hỗ trợ phòng và điều trị các bệnh về đường hô hấp cho trẻ nhỏ.

Nếu mẹ muốn biết nhiều hơn, hãy đọc ngay tất tần tật đánh giá về sản phẩm cốm vi sinh Nutribaby sau đây.

>> Xem thêm: 8 thói quen chăm sóc khiến cho bé biếng ăn nhiều mẹ vẫn không hề biết

Trong thời gian gần đây, hầu hết các mẹ “bỉm sữa” đều rất quan tâm đến sản phẩm cốm vi sinh mang tên Nutri Baby. Trên các diễn đàn lamchame, webtretho hay hội nhóm FB về mẹ và bé thấy các chị em trao đổi rất sôi nổi về chất lượng, sự hiệu quả cũng như giá bán của sản phẩm này. Vậy Nutribaby là sản phẩm cốm vi sinh như thế nào mà hot như vậy?

1. Sản phẩm cốm vi sinh NutriBaby

Cốm vi sinh NutriBaby trị biếng ăn

XEM THÔNG TIN SẢN PHẨM

NutriBaby là một thực phẩm chức năng do Việt Nam sản xuất có công dụng giúp trẻ ăn ngon miệng hơn, giảm tình trạng biếng ăn ở trẻ nhỏ. Ngoài ra, trong mỗi gói NutriBaby chứa các thành phần dược liệu ưu việt giúp tăng cường khả năng hấp thu dưỡng chất trong thức ăn cho hệ tiêu hóa của bé, tạo đà cho sự phát triển của cơ thể trẻ; cải thiện hệ miễn dịch và nâng cao sức đề kháng giúp trẻ chống lại các bệnh về hô hấp thường gặp mỗi khi giao mùa thời tiết thay đổi.

2. Cốm vi sinh Nutribaby có thực sự tốt không?

Các mẹ thường quan tâm đến chất lượng sản phẩm dành cho con thông qua nguồn gốc xuất xứ sản phẩm. Nutri baby đã được nhà sản xuất là công ty dược Vạn Khang nghiên cứu và thử nghiệm nhiều lần trước khi đưa vào sản xuất quy mô đại trà để cung cấp ra thị trường. Do đó, về điểm này các mẹ hãy yên tâm khi có ý định mua cho con dùng nhé. Vậy Nutribaby có tốt không, hãy cùng nhau tìm hiểu các thành phần có trong mỗi gói cốm vi sinh này.

Trong mỗi gói cốm vi sinh NutriBaby có gì?

Dược liệu thuần Việt có nguồn gốc thiên nhiên:

+ Cam thảo: 250mg

+ Hoài sơn: 250mg

+ Hoàng kỳ: 400mg

+ Diếp cá: 300mg

+ Hà thủ ô: 250mg

Dược liệu cao cấp được nhập khẩu từ châu Âu:

+ Taurine: 50mg;

+ Thymomodulin: 50mg;

+ B-glucan: 20mg;

+ L-Lysine HCl: 500mg;

+ FOS (Fructo Oligosaccharides): 100mg;

+ Kẽm gluconat: 21mg;

+ Pluriamin: 100mg;

+ Vitamin B1: 0,5mg;

+ Vitamin B2: 0,5mg;

+ Vitamin B6: 1mg.

Như vậy, các thành phần có trong cốm vi sinh Nutribaby đều là các nguyên liệu an toàn và có xuất xứ rõ ràng. Mỗi gói cốm Nutribaby là sự phối kết hợp giữa Đông – Tây y bao gồm dược liệu thiên nhiên quý hiếm và các thành phần dược liệu nhập khẩu từ châu Âu. Đặc biệt, nhà sản xuất cam kết sản phẩm không chứa chất bảo quản và hóa chất gây hại đến sức khỏe người dùng. Bằng chứng là sản phẩm này đã được bộ Y Tế Việt Nam cấp giấy chứng nhận số 35197/2016/ATTP-XNCB, cho phép lưu hành trên toàn quốc. Ngoài ra, khi không dùng Nutribaby nữa, trẻ không lo bị phụ thuộc hay tình trang biếng ăn quay trở lại. Có thể đánh giá đây là một sản phẩm dành cho trẻ biếng ăn và thể trạng ốm yếu vừa tin cậy vừa an toàn cho các bé.

3. Cốm vi sinh NutriBaby có công dụng như thế nào?

– Trẻ cảm thấy ăn ngon miệng hơn và thèm ăn chứ không sợ đồ ăn như trước đây. Đây quả là một “bảo bối” cho các mẹ có con mắc chứng biếng ăn.

– Nâng cao hệ miễn dịch cho bé, giúp con có đủ sức đề kháng với các bệnh thường gặp ở trẻ mỗi khi giao mùa.

– Sản phẩm hỗ trợ sự phát triển của hệ vi sinh đường ruột, làm gia tăng số lượng lợi khuẩn giúp hệ tiêu hóa của trẻ hoàn thiện hơn, hấp thu thức ăn tốt hơn.

– NutriBaby còn có tác dụng phòng bệnh và chữa khỏi các bệnh về đường hô hấp. Do đó, mỗi khi thời tiết thay đổi hay vào thời điểm giao mùa, các mẹ hoàn toàn yên tâm không lo bé nhà mình mắc bệnh do nhiễm khuẩn nữa.

– Kết quả thực nghiệm đối với các bé đã dùng cốm vi sinh Nutribaby được đánh giá tốt: Cứ 100 trẻ sử dụng thì 96% có tiến triển tốt. Sau khi sử dụng sản phẩm này 1 liệu trình các con ăn ngon, ngủ tốt, bắt đầu tăng cân, vui vẻ hoạt bát hơn, sức khỏe của bé cũng được cải thiện rõ rệt. Đây là số liệu thực tế cho thấy Nutribaby rất hiệu quả đối với các trẻ lười ăn, biếng ăn hay trẻ thấp còi, bị thiếu cân.

4. Nên chọn loại cốm vi sinh Nutribaby nào?

Có nhiều mẹ băn khoăn không biết chọn loại cốm vi sinh loại nào thì phù hợp với lứa tuổi và thể trạng của con mình, bởi hiện nay có 02 loại: Nutribaby hộp màu cam và Nutribaby hộp màu hồng (hay còn được gọi là Nutribaby plus).

nutribaby va nutribaby plus

Theo nhà sản xuất giới thiệu, hai loại cốm Nutribaby này có một vài điểm hơi khác nhau về công dụng và lứa tuổi sử dụng mà thôi.

1. Nutribaby màu cam – Sản phẩm chuyên biệt dành cho trẻ biếng ăn

Cốm vi sinh Nutribaby màu cam

Sản phẩm được sản xuất theo quy chuẩn chất lượng châu Âu. Các bé từ 2 tuổi bắt đầu sử dụng được.

Công dụng chính:

– Giúp bé ăn ngon hơn, tạo cảm giác thèm ăn, đẩy lùi chứng lười ăn ở trẻ nhỏ.

– Nâng cao hệ miễn dịch và khả năng đề kháng cho bé. Đặc biệt tốt với những trẻ suy dinh dưỡng, chậm lớn.

– Hỗ trợ điều trị bệnh đường ruột ở trẻ: Rối loại tiêu hóa, táo bón, tiêu chảy…

2. Nutribaby màu hồng – Sản phẩm chuyên biệt dành cho trẻ viêm hô hấp

Nutribaby màu hồng trị viêm hô hấp

Nutribaby màu hồng hay còn gọi là Nutribaby plus được bào chế từ nguyên liệu nhập khẩu châu Âu tại nhà máy đạt tiêu chuẩn GMP, chuyên dành cho trẻ sơ sinh từ 6 tháng tuổi.

Công dụng chính:

+ Điều trị các bệnh hô hấp ở trẻ: Ho, viêm họng, viêm amidan..

+ Bổ sung kháng thể và nâng cao hệ miễn dịch cho bé

+ Đẩy lùi các bệnh về hệ tiêu hóa như rối loạn tiêu hóa, đầy bụng, khó tiêu

+ Giúp bé ăn ngon miệng, ăn được nhiều hơn. Thích hợp cho trẻ lười ăn sinh lý, biếng ăn lâu ngày hay trẻ từng lệ thuộc với thuốc kháng sinh.

Để mang lại hiệu quả chữa trị cao nhất cho con, các mẹ có thể dùng kết hợp cả hai loại cốm Nutribaby này theo liệu trình cụ thể. Cần lưu ý: Nutribaby màu cam phù hợp với trẻ từ 2 tuổi trở lên, Nutribaby màu hồng dành cho trẻ sơ sinh từ 6 tháng tuổi trở lên.

5. Cốm vi sinh Nutribaby nên dùng như thế nào?

Cách tối ưu nhất khi sử dụng cốm vi sinh Nutribaby mang lại hiệu quả cao nhất là cho mẹ phải biết cách cho con dùng đủ liều lượng, đúng thời gian quy định. Để yên tâm nhất, phụ huynh nên tham vấn dược sĩ, bác sĩ chuyên khoa nhi. Thông tin hướng dẫn sử dụng thuốc cũng được nhà sản xuất in trên vỏ hộp và toa đơn, các mẹ nên đọc kỹ.

1. Đối tượng phù hợp với Nutribaby?

– Trẻ biếng ăn, thiếu cân, suy dinh dưỡng và chậm lớn

– Trẻ hay ốm vặt do sức đề kháng yếu

– Người lớn có thể trạng yếu hay ốm đau có thể dùng sản phẩm này

– Những trẻ dễ mắc bệnh do thay đổi thời tiết, các bệnh về hô hấp mỗi khi giao mùa

– Các trẻ đang điều trị viêm đường hô hấp như viêm họng, viêm amidan, viêm phế quản…

2. Cách sử dụng cốm vi sinh Nutribaby

– Uống 2-3 lần/ngày, mỗi lần dùng 1 gói.

– Nên uống trước khi ăn 30 phút hoặc sau bữa ăn 1h sẽ có hiệu quả cao nhất.

– Pha Nutribaby vào nước hay hòa vào sữa cho trẻ uống. Nếu bé thích có thể cho nhai trực tiếp.

6. Mua cốm vi sinh Nutribaby ở đâu đảm bảo nhất?

Sản phẩm này hiện đã có bán ở một vài hiệu thuốc lớn tại Hà Nội, TPHCM. Nhưng để tránh mua phải hàng giả, hàng kém chất lượng, cha mẹ nên đăng ký mua trực tiếp với nhà sản xuất thông qua website chính thức. Tuyệt đối không nên mua ở những hiệu thuốc nhỏ lẻ, không đáng tin cậy kẻo lại “Tiền mất, tật mang”.

MUA TẠI WEBSITE CÔNG TY

7. NutriBaby có đắt không, giá bán bao nhiêu?

NutriBaby có đắt không

Cả 2 loại cốm vi sinh Nutribaby màu hồng và Nutribaby màu cam đều có giá 300.000 đ khi mua combo 2 hộp. Một sản phẩm có chất lượng tốt như Nutribaby thì đây là mức giá phù hợp với nhiều gia đình có con nhỏ. Đặc biệt, khi mua combo 4 gói với giá 600.000 đ, sẽ được nhà sản xuất miễn phí giao hàng đến tận nhà. Thật đơn giản, các mẹ chỉ cần truy cập vào link dưới đây và để lại tên, số điện thoại, sau đó sẽ được chuyên viên gọi lại tư vấn rất tận tình.

MUA TẠI WEBSITE CÔNG TY

8. Đánh giá thực tế sử dụng của cha mẹ về 2 loại cốm vi sinh Nutribaby

PGS.TS.BS Lê Bạch MaiNutribaby và Nutribaby Plus được PGS.TS.BS Lê Bạch Mai – nguyên Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia khuyên dùng: Với bé trên 6 tháng, biếng ăn, hấp thu kém, đề kháng yếu, mẹ nên cho bé dùng NutriBaby màu cam. Với trẻ dưới 6 tháng, biếng bú, lười ăn dặm hoặc đang gặp vấn đề viêm hô hấp thì NutriBaby Plus (dùng cho trẻ từ 0 tháng tuổi). Cốm vi sinh NutriBaby thực sự là giải pháp tuyệt vời để các mẹ Việt nuôi con khỏe toàn diện.

Diễn viên Việt Anh – Phan Hải trong phim “Người phán xử” tâm sự:

Bố diễn viên Việt Anh từng chia sẻ trên báo và trang cá nhân về bí quyết chữa chứng biếng ăn, giúp con khỏe mạnh và lớn nhanh nhờ sử dụng NutriBaby:

Diễn viên Việt Anh“Cứ mỗi bữa là cả bố, cả mẹ, thậm chí có những hôm có cả bà nữa, loay hoay dỗ đủ mọi cách chỉ để cho con ăn được hết một bát bột. Có những hôm bữa ăn kéo dài gần 2 tiếng đồng hồ thì thực sự là khủng khiếp…Đóng phim vất vả nhưng mà cho con ăn thì còn vất vả hơn rất nhiều. Thực sự nhớ lại những ngày tháng đấy thì Việt Anh không muốn nhớ lại nữa, chỉ muốn quên cho nhanh thôi…Lúc đầu thì mình cũng hoài nghi lắm rằng không biết có chất lượng và hiệu quả thực sự hay không. Nhưng sau đó mình có lên mạng tìm hiểu thì được biết NutriBaby và NutriBaby Plus đã được PGS.TS.Bác sĩ Lê Bạch Mai – Nguyên Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia khuyên dùng nên mình cũng cảm thấy yên tâm cho Đậu sử dụng. Đến nay Đậu đã dùng NutriBaby được khoảng 2 tháng, thấy Đậu ăn ngon hơn, chủ động ăn hơn chứ mẹ không phải ép như ngày trước.”

Chị Nguyễn Thị Thủy (Dược sĩ – Nghệ An) kể:

Dược sĩ Nguyễn Thị ThủyKhi bé Trà My được 20 tháng tuổi thì bị viêm đường hô hấp khá nặng. Tôi cho con uống kháng sinh để trị bệnh. Tuy nhiên sau khi khỏi, con lại trở nên biếng ăn. Mỗi bữa, tôi đã tìm đủ mọi cách để dỗ con ăn nhưng con nhất quyết không chịu ăn.

Là một dược sĩ, tôi hiểu được rằng nếu tình trạng biếng ăn kéo dài và không tìm ra giải pháp kịp thời thì con sẽ bị biếng ăn dạng mãn tính. Sau quá trình tìm hiểu và so sánh rất nhiều loại thuốc, tôi đã chọn Nutribaby.

Sau khi mua Nutribaby tại website của công ty, tôi cho con uống 2 lần mỗi ngày vào buổi sáng và buổi tối, mỗi lần pha 1 gói với nước. Sản phẩm cốm Nutribaby có vị socola nên con rất thích uống. Chỉ sau 2 ngày sử dụng, tôi nhận thấy được hiệu quả rõ rệt: Con ăn nhiều lên trông thấy, mẹ bón tới đâu nhai hết tới đó, có lúc còn tự đòi cầm thìa xúc ăn nữa.

Mẹ sao nhí Kitty Minh Khánh tham gia “Biệt tài tí hon” vui vẻ nói:

Mẹ sao nhí Kitty Minh KhánhKhi Minh Khánh bay từ Hà Nội vào TPHCM để tham gia “Biệt tài tí hon”, điều khiến gia đình tôi lo lắng là sự thay đổi thời tiết có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của con. Sợ nhất là con chưa thích nghi với không khí trong miền Nam sẽ bị ốm, biếng ăn, lo âu… Nhưng thật may, nhờ một chị bạn mách bảo, gia đình tôi đã quyết định dùng NutriBaby cho bé.

Thật bất ngờ, hiệu quả của sản phẩm tốt hơn cả sự mong đợi của cả gia đình. Bé không những khỏe mạnh, ăn ngon hơn mà tinh thần luôn vui vẻ, tràn đầy năng lượng. Từ đây về sau, mỗi năm tôi dùng Nutribaby cho con 2 đợt. Mỗi đợt kéo dài 2 tháng liên tục. Nhờ vậy, cơ thể con luôn có một sức đề kháng tốt. Và nếu các bạn để ý, khi tham gia chương trình “Bố ơi! Mình đi đâu thế?”, Minh Khánh phải tham gia quay phim cùng ekip trong mấy ngày liền mà không hề bị ốm hay mệt mỏi gì cả. Đó là nhờ có Nutribaby.

Nào, đọc tiếp! Vẫn còn…

Chị Nguyễn Thị Khánh (Hà Tĩnh) chia sẻ:

Thật sự mà nói thì cảm giác phải chiến đấu với tình trạng biếng ăn của con trong suốt 3 năm trời rất kinh khủng. Bé nhà mình cực kỳ biếng ăn. Cứ mỗi lúc đến bữa ăn lại quấy khóc, làm mọi cách mà bé vẫn không chịu ăn. Mình cũng đã thay đổi thực đơn những món lạ miệng nhưng vẫn không có tác dụng. Thời gian con biếng ăn cũng là lúc mình bị stress thực sự. Chỉ đến khi cho con dùng Nutribaby – theo lời giới thiệu của một người bạn cùng chung cảnh ngộ, con bắt đầu chịu ăn cơm. Và khi nghe con gọi: “Mẹ ơi! Con đói!” mà người mẹ như mình mừng rơi nước mắt. Mình khuyên những mẹ đang có con biếng ăn thì nên dùng Nutribaby.

Chị Nguyễn Lương (Thành phố Bắc Ninh) cười nói:

Chị Nguyễn Lương (TP Bắc Ninh)Từ lúc dùng NutriBaby con đỡ hẳn ốm vặt. Các triệu chứng ho, sổ mũi chưa thấy quay lại lần nào. Thấy con sử dụng hiệu quả mình mừng lắm và cho con uống đều đặn. Quan trọng nhất là giờ mẹ nhẹ cả người vì con thoát được cảnh dùng kháng sinh. Trước kia hễ thấy thời tiết hơi thay đổi hay nghe đài báo hôm sau có mưa là 2 vợ chồng mình đứng ngồi không yên. Chỉ cần nghe thấy con ho một cái là 2 vợ chồng nhìn nhau thở dài vì “biết bài” bệnh của con rồi.

Trên diễn đàn webtretho.com, thành viên minhminhxd viết: “Bé nhà em lười ăn quá, đang định cho con dùng cốm NutriBaby. Mẹ nào dùng rồi feedback em với ạ” được các mẹ đánh giá NutriBaby rất tốt và khuyên nên dùng cốm vi sinh này cho bé.

Hiệu quả của cốm vi sinh NutriBaby

Trên diễn đàn lamchame.com, mẹ Thu_Trang_85 thắc mắc: “Có nên dùng cốm NutriBaby cho trẻ không? Mẹ nào dùng rồi chia sẻ kinh nghiệm mình với.” Ở bên dưới là các bình luận của các mẹ đã từng cho con sử dụng NutriBaby đều khuyên dùng sản phẩm này cho trẻ biếng ăn.

Như vậy, cốm vi sinh Nutribaby là một sản phẩm chất lượng mà các bà mẹ bỉm sữa nên biết đến. Nếu con bạn mắc chứng biếng ăn hay các bệnh về hô hấp thì TPCN Nutribaby là một giải pháp tối ưu nhất. Có thể nói Nutribaby không chỉ giúp trẻ ăn ngon, ngủ ngon, khỏe mạnh, tăng cân mà còn xua tan bớt nỗi lo âu, gánh nặng cho cha mẹ khi chăm sóc trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.

Trên đây là những thông tin đánh giá về thành phần, chất lượng, nguồn gốc, mức giá, cách sử dụng.. của sản phẩm cốm vi sinh Nutribaby. Chúc các cha mẹ nuôi con thông minh, ngoan ngoãn, hay ăn và chóng lớn!

XEM THÔNG TIN SẢN PHẨM

Thứ Tư, 2 tháng 1, 2019

Tư vấn mua máy hút bụi cầm tay loại nào tốt nhất năm 2022

Máy hút bụi cầm tay là dụng cụ vệ sinh tiện dung của các gia đình. Đặc biệt trong mùa hanh khô thì sản phẩm này càng cần thiết hơn.

Để biết được máy hút bụi cầm tay loại nào tốt, phù hợp với nhu cầu sử dụng của gia đình thì bạn không thể bỏ qua bài chia sẻ về máy hút mụi mini dưới đây.

REVIEW MÁY HÚT BỤI CẦM TAY LOẠI NÀO TỐT NHẤT 2020

1. Máy hút bụi cầm tay 2 chiều Vacuum Cleaner J-K8

Vacuum Cleaner J-K8 được ví như là “siêu phẩm” máy hút bụi cầm tay có lịch sử lâu đời.

Thiết kế sang trọng, hiện đại. Đặc biệt khối lượng rất nhẹ chỉ với 2,5kg, gọn nhẹ, chắc chắn, rất an toàn khi cầm nắm.

may-hut-bui-cam-tay-vacuum-cleaner

Công suất lớn 1000W cho phép máy hút bụi Vacuum Cleaner JK-8, làm sạch mọi ngóc ngách trong nhà trong một thời gian ngắn.

Máy có hai tính năng ưu việt, vừa hút vừa thổi bụi với đầu hút sàn, khe đa năng nên có thể hút sạch ở góc tủ, góc bàn, gầm bàn, khe máy tính, thảm, salon

Máy có nhiều mối nối với chiều dài khác nhau, cực kì linh hoạt trong di chuyển. Các mối nối dài sẽ giúp hút và thổi sạch nhiều loại bụi khác nhau ở các vị trí trong căn nhà của mình.

Máy hút bụi cầm tay Vacuum Cleaner JK-8 có dung tích chứa bụi khá lớn có thể lên đến 2 lít, vì thế bạn không phải đổ rác nhiều lần. Bộ phụ kiện đi kèm cực kì phong phú để tăng năng suất làm việc của máy.

Về giá thành: Sản phẩm có giá rẻ chỉ khoảng 315.000 đ, phù hợp với mức thu nhập của rất nhiều gia đình.

2. Máy hút bụi cầm tay Black&Decker PAV1205

Máy hút bụi Black&Decker PAV1205 là máy hút bụi mini ở ô tô, tiện dụng và đa chức năng. Bạn có thể dùng sản phẩm này để làm sạch các thiết bị trong nhà như đồ nội thất, thảm ghế sofa, ghế xe ô tô, thảm sàn nhà đều rất thích hợp.

may-hut-bui-black-decker

Với công suất hoạt động khoảng 11W khả năng làm sạch bụi bẩn vượt trội.

Máy có dây nối dài 5m để người sử dụng có thể di chuyển linh hoạt đến những góc nhỏ nhất trong xe hơi. Dung tích chứa bụi lớn, nhiều đầu hút mang lại hiệu quả sử dụng cao.

Với bộ lọc HEPA, lọc sạch bụi nhỏ nhất. Bộ lọc này có hiệu quả lọc tối thiểu đến  99,97% ở kích thước 0.3 micro. Vì thế hạt bụi kích thước siêu nhỏ 0.3 micro sẽ được lọc sạch, mang đến cho bạn không gian sống trong lành.

Về giá thành, máy hút bụi mini Black&Decker PAV1205 giá bán là 719.000 đồng.

3. Máy hút bụi Magic One MG-901

Nếu như những loại máy hút bụi truyền thống có thiết kế lớn, cồng kềnh và kém linh hoạt thì máy hút bụi cầm tay Magic One MG901 cực kì nhỏ gọn. Với thiết kế tay cầm chắc chắn và tiện lợi, nút bật tắt ở ngay phần thân máy.

may-hut-bui-mini-magic-one-mg-901

Loại máy hút bụi này có đầu hút sàn, hút khe rất đa năng, làm sạch tối ưu mọi nơi trong nhà như góc bếp, mép cầu thang, khe cửa sổ.

Đặc biệt công suất của máy hút bụi mini này lên tới 1000W, với 2 tính năng đan xen nhau vừa hút, vừa thổi giúp công việc làm sạch nhà cửa của chị em tiện dụng, nhẹ nhàng hơn rất nhiều.

Dây điện dài khoảng 5m nên người dùng có thể chủ động hút bụi trong không gian lớn. Máy được làm từ nhựa cao cấp, không bám bẩn nên cực kì dễ dàng vệ sinh, khoang chứa bụi tháo rời, làm sạch sau mỗi lần sử dụng nên có độ bền cao.

4. Máy hút bụi cầm tay Shimono SVC1016-C

Mặc dù máy hút bụi cầm tay Shimono SVC1016-C dùng với động cơ công suất không cao chỉ khoảng 100W, dòng điện 12V nhưng vẫn có lực hút ổn định, làm sạch mọi vị trí trong nhà, đảm bảo một không khí thoáng sạch, tươi mới.

may-hut-bui-cam-tay-shimono-svc1016-c

Dòng sản phẩm này có tích hợp màng lọc HEPA, lọc sạch không khí. Thiết kế tiện lợi, có thể kết hợp phụ kiện, đầu hút đi kèm nên phù hợp với nhu cầu làm sạch của nhiều gia đình. Máy có trang bị đèn Led tiện lợi, vừa rọi vừa hút bụi bẩn ở các ngõ ngách trong nhà mà không cần đèn Pin.

Nếu bạn đang tìm mua máy hút bụi xe ô tô, máy hút bụi trong nhà thì đây là một sự lựa chọn hoàn hảo.

Về giá thành máy hút bụi cầm tay Shimono SVC1016-C có giá bán chỉ 929.000 đồng.

5. Máy hút bụi Greenhome GHA 102

Ưu điểm của máy hút bụi Greenhome GHA 102 là có thể hút bụi ở bên dưới sàn, bàn, ghế, vừa có thể tháo rời để cầm hút ở những nơi nhỏ hẹp, bề mặt ở trên cầu thang, bàn phím của máy tính.

may-hut-bui-mini-greenhome-gha-102

Đây là loại máy hút bụi cầm tay có công suất 650W có thể dễ dàng làm sạch bụi bẩn. Bởi thiết kế thông minh, dễ dàng tháo lắp linh hoạt.

Cán và tay cầm của máy hút bụi Greenhome GHA 102 được làm từ Inox có khả năng chịu lực tốt, hạn chế tối đa biến dạng do va đập.

Với bộ lọc HEPA trong suốt hút sạch sẽ các hạt bụi kích thước nhỏ như phấn hpa, mang lại cho bạn một không khí trong lành. Đây sẽ là sự lựa chọn hoàn hảo cho các gia đình. Gía bán của sản phẩm là 658.000 đồng.

MÁY HÚT BỤI CẦM TAY MINI BAO NHIÊU TIỀN?

Máy hút bụi cầm tay trên thị trường khá đa dạng, mỗi dòng sản phẩm lại phù hợp với các phân khúc khách hàng khác nhau.

Máy hút bụi cầm tay giá rẻ thuộc phân khúc bình dân. Đây là dòng sản phẩm có giá dưới 500k. Sản phẩm rất phù hợp để vệ sinh, làm sạch ở những vị trí nhỏ, hẹp hoặc ở trên. Tuy nhiên dùng máy hút bụi mini giá rẻ gây ra tiếng ồn nhiều.

Máy hút bụi cầm tay giá bán tầm trung: Dòng sản phẩm này có giá từ 500 nghìn đến 1,5 triệu đồng. Máy có lực hút rất tốt và hoạt động ổn đinh trong thời gian dài.

Máy hút bụi cầm tay thuộc phân khúc cao cấp: Đây là dòng sản phẩm có giá bán trên 1,5 triệu đồng, tính năng ưu việt, tháo lắp linh hoạt. Máy hút bụi cầm tay cao cấp không chỉ được thiết kế kiểu dáng bắt măt mà còn có sức hút mạnh mẽ, hoạt động siêu bền trong một thời gian dài.

CÓ NHỮNG LOẠI MÁY HÚT BỤI CẦM TAY NÀO?

Thông thường dựa vào nguồn điện thì bạn có thể phân chia máy hút bụi cầm tay ra thành 3 loại như sau:

Thứ nhất máy hút bụi cầm tay có sạc pin, sản phẩm này khá linh hoạt, thời gian sử dụng liên tục ngắn chỉ khoảng 10-15 phút.

cac-loai-may-hut-bui-cam-tay

Thứ hai máy hút bụi dùng với điện lưới, ưu điểm của sản phẩm này là công suất cao, có khả năng hút bụi tốt, phù hợp với nhu cầu sử dụng của nhiều gia đình.

Thứ ba loại máy hút bụi có dùng điện 12V dùng để hút bụi trên ô tô, loại này hạn chế về tính năng và chỉ dùng trên ô tô.

Bên cạnh đó máy hút bụi cầm tay không dây cũng khá linh hoạt, tiện dụng được nhiều gia đình lựa chọn.

LƯU Ý KHI MUA MÁY HÚT BỤI CẦM TAY

  1. Quan tâm đến trọng lượng và thiết kế của máy

Vì đây là máy hút bụi mini cầm tay nên điều bạn cần cân nhắc là trọng lượng và kích cỡ của máy. Nên chọn máy có trọng lượng vừa phải, thoải mái cầm nắm bằng tay, tiện lợi khi sử dụng.

  1. Công suất hoạt động của máy

Với máy hút bụi cầm tay thì trọng lượng sẽ liên quan chặt chẽ đến công suất hút bụi của máy. Nếu sản phẩm có trọng lượng nhẹ, kích thước nhỏ thì công suất nhỏ chưa đến 100W.

  1. Chức năng hút và thổi bụi

Một điều cần ghi nhớ khi mua máy hút bụi mini là máy phải có chức năng thổi bụi, hút các vật nhỏ như bụi, lông vật nuôi hoặc nước bẩn.

  1. Bộ lọc bụi máy đang dùng

Đa số các loại máy hút bụi cầm tay trên thị trường đều dùng bộ lọc HEPA. Đây được các chuyên gia đánh giá là bộ lọc tiên tiến nhất, hiện đại nhất có thể lọc sạch 99,97% hạt bụi có kích cỡ nhỏ đến 0.3 micro mét.

  1. Chế độ bảo hành của máy hút bụi cầm tay là bao lâu?

Việc tìm hiểu trước chế độ bảo hành sản phẩm sẽ giúp bạn yên tâm hơn khi sử dụng. Máy hút bụi cầm tay sẽ có thời hạn bảo hành ngắn, chỉ khoảng từ 6-12 tháng.Thời gian bảo hành này sẽ cho phép bạn được đổi trả hoặc sửa chữa khi gặp sự cố nhất là các phụ kiện có đi kèm theo máy.

  1. Mua máy hút bụi cầm tay ở đâu tốt?

mua-may-hut-bui-cam-tay-o-dau

Do nhu cầu sử dụng máy hút bụi mini ngày càng lớn nên rất nhiều nhà phân phối, địa chỉ bán máy hút bụi cầm tay mọc lên. Bạn hãy đến những địa chỉ uy tín để chọn được sản phẩm chính hãng như các siêu thị điện máy, các cơ sở có giấy chứng nhận phân phối của nhà sản xuất.

CÁC THƯƠNG HIỆU MÁY HÚT BỤI CẦM TAY BẠN NÊN CHỌN

Khi mua sản phẩm máy hút bụi cầm tay, điều đầu tiên các gia đình quan tâm đến là thương hiệu. Dưới đây là 5 hãng máy hút bụi cầm tay được người tiêu dùng tại Việt Nam ưa chuộng nhất.

  • Máy hút bụi cầm tay Bosch

Bosch là thương hiệu về thiết bị nhà bếp, thiết bị phụ kiện ô tô, dụng cụ cầm tay có lịch sử lâu đời ở Đức. Ra đời năm 1886 đến nay, Bosch đã chinh phục được hàng triệu khách hàng trên thế giới.

may-hut-bui-cam-tay-bosch

Tuy nhiên ở Việt Nam sản phẩm máy hút bụi mini của Bosch thuộc dòng phân khúc cao cấp, có giá bán hơn 1 triệu đồng. Bạn có thể chọn một số sản phẩm sau: máy hút bụi cầm tay Bosch BKS4033, Bosch BKS4043, Bosch BHN090702…

  • Máy hút bụi cầm tay Electrolux

Electrolux cũng là một trong những thương hiệu máy hút bụi cầm tay mạnh ở Việt Nam. Sản phẩm của hãng này có kiểu dáng đẹp, tiện dụng, công suất mạnh có thể đánh bay mọi vết bụi bẩn. Mức giá cũng rẻ hơn so với hãng Bosch, phù hợp với nhiều phân khúc khách hàng.

may-hut-bui-cam-tay-electrolux

Một số sản phẩm bạn có thể chọn là: Máy hút bụi cầm tay Electrolux ZB404WD, Electrolux ZB3114AK, Electrolux ZB3314AK…

  • Máy hút bụi mini cầm tay Philips

Philips thương hiệu đồ gia dụng đến từ Thụy Sỹ, các sản phẩm của Philips chinh phục cả những người dùng khó tính nhất. Philips tung ra thị trường các sản phẩm robot hút bụi thông minh.

may-hut-bui-cam-tay-philips

Model máy hút bụi cầm tay Philips mà các gia đình có thể lựa chọn là Philips FC6140, Philips FC6142

  • Máy hút bụi cầm tay Shimono

Shimono thương hiệu đồ gia dụng, thiết bị nhà bếp của Malaysia. Máy hút bụi Shimono thường được sử dụng để hút bụi trên xe hơi, công suất vừa phải, bộ lọcchuẩn Hepa, thùng chứa bụi lớn nên bạn có thể hút rất lâu mà không phải tháo ra vệ sinh.

may-hut-bui-cam-tay-shimono

Các gia đình Việt thường chọn những model máy hút bụi cầm tay Shomono sau: Shimono SVC1015, Shimono SVC1016, Shimono SVC1017.

  • Máy hút bụi cầm tay Midea

Midea là thương hiệu đồ gia dụng của Hàn Quốc. Máy hút bụi cầm tay Midea thiết kế nhỏ gọn, linh hoạt, vừa đẹp về mẫu mã lại có tính năng hút thổi ưu việt. Bạn có thể chọn một số model sau Midea MVC-SC861B, Midea MVC-SC861R

may-hut-bui-cam-tay-midea

Trên đây là bài chia sẻ về máy hút bụi cầm tay và những lưu ý khi lựa chọn sản phẩm này. Bạn hãy ghi nhớ để chọn được máy hút bụi cầm tay mini tốt nhất, phù hợp với nhu cầu sử dụng của gia đình. Đừng quên like, share nếu thấy bài viết hữu ích.

>>> Xem thêm các mẫu máy hút bụi cầm tay giá rẻ tốt nhất trên Tiki Tại Đây

Xem thêm các bài viết sau:

Kinh nghiệm xương máu để được mua máy bơm nước gia đình tốt nhất

Máy bơm nước là thiết bị không thể thiếu phục vụ đời sống sinh hoạt của các gia đình. Nếu gia đình bạn đang băn khoăn không biết mua dòng máy nào tốt, hãy theo dõi ngay bài viết dưới đây.

MÁY BƠM NƯỚC LÀ GÌ?

Máy bơm nước gia đình được sử dụng rất nhiều trong sinh hoạt, máy có nhiệm vụ hút nước từ nơi có áp suất nhỏ đến nơi có áp suất lớn.

TÌM HIỂU CẤU TẠO CỦA MÁY BƠM NƯỚC

Một máy bơm nước hoàn chỉnh sẽ bao gồm các bộ phận dưới đây:

  • Bánh công tác hoặc cánh quạt, kết cấu cơ bản là cánh mở hoàn toàn, cánh đóng kín, cánh mở một cánh.
  • Trục bơm được lắp chung với bánh công tác qua một mối ghép then được làm từ hợp kim không gỉ, siêu bền.
  • Bộ phận hướng thuộc về phần thân của máy bơm.
  • Bộ phận hướng ra hay buồng xoắn ốc có thể đúc bằng gang với thiết kế khá phức tạp.

cau-tao-may-bom-nuoc

Nhưng nếu bạn hiểu rõ về máy bơm nước thì sẽ thấy rằng máy được phân chia thành 2 phần chính là động cơ điện và đầu bơm.

Động cơ điện hay motor gồm có: Vỏ motor bằng nhôm hoặc inox bọc ở bên ngoài để bảo vệ tất cả các bộ phận bên trong có thể kể đến là stato, trục quay, tản nhiệt, bạc đạn và bảng điện.

Còn đầu bơm bao gồm: Vỏ bơm bằng gang hoặc Inox bọc bên ngoài để bảo vệ bộ phận bên trong buồng bơm là guồng bơm, cánh bơm, phốt cơ học…

MÁY BƠM NƯỚC HOẠT ĐỘNG NHƯ THẾ NÀO?

Khi quay trục của máy bơm nước phải chịu lực hướng kéo vật ra trục quay và có phương đi qua tâm quay còn gọi là trục quay. Hạt nước khi nằm ở trên đĩa phẳng sẽ chịu sự tác động lực của tâm ly và sẽ dịch chuyển từ tâm ra ngoài.

nguyen-ly-hoat-dong-may-bom-nuoc

Khi nước ở bánh công tác bị ảnh hưởng bởi lực ly tâm sẽ văng ra bên ngoài, chuyển động theo máng dẫn đi vào ống với một áp suất cao. Lúc này diễn ra quá trình đẩy của máy bơm.

Chất lỏng ở bể hút bị đẩy bơm theo ống hút diễn ra quá trình hút của bơm. Trong quá trình này sẽ tạo nên dòng nước được chảy qua liên tục để biến một phần động năng của dòng chảy thành áp suất.

CÓ MẤY LOẠI MÁY BƠM NƯỚC GIA ĐÌNH?

Với dòng máy bơm nước bạn có thể dễ dàng tìm thấy ở siêu thị điện máy, đại lý phân phối lớn nhỏ.

1. Máy bơm nước quạt

Loại máy này hoạt động dựa vào hoạt động của mô tơ làm quay cánh quạt, hoạt động này làm nước bị hút theo đường ống hút theo đường song song với trục bơm và đẩy ra nhiều hướng khác nhau.

Máy bơm nước quạt bao gồm: Máy bơm hướng trục bơm dọc trục và bơm hỗn hợp.

2. Máy bơm khí nâng

Dòng sản phẩm này hoạt động theo nguyên tắc khí được bơm xuống phần thân bơm chìm dưới nước rồi được kết hợp tạo thành hỗn hợp khí và nước, vì hỗn hợp này có khối lượng nhẹ hơn nước vì nước được trào lên thân tạo ra áp suất đi qua thân bơm. Máy được sử dụng để tạo dòng và phun nước.

3. Máy bơm điện chìm

Đây là loại máy được thả chìm xuống nước. Máy hoạt động khi điện năng truyền qua dây dẫn khiến mô tơ cánh quạt của bơm ly tâm quay, nước được đẩy lên vận chuyển qua thân bơm, qua ống đẩy của bơm tạo ra dòng nước.

4. Máy bơm ly tâm

may-bom-nuoc-li-tam

Dòng sản phẩm này phổ biến nhất trên thị trường. Máy hoạt động theo nguyên lí lực ly tâm tạo sức quay của cánh mô tơ điện dưới sự tác động của lực làm dòng nước chảy ra ngoài gây ra áp suất thấp trong thân bơm vì thế nước được đẩy ra ngoài.

5. Máy bơm phun

Máy bơm phun cũng được sử dụng nhiều. Máy hoạt động nhờ dùng bơm phụ hoặc khí nén tạo sự dịch chuyển đầu trong thân máy, vì thế chất lỏng hoặc khí nén từ bơm phụ tạo ra áp suất sau thân bơ, khiến nước bắn ra.

6. Máy bơm piston

Dòng sản phẩm này hoạt động tốt nhờ tạo lực hút và đẩy của piston trong xi lanh. Nguyên lí hoạt động của máy này đơn giản. Do đặc điểm này nên nhiều gia đình sử dụng sản phẩm này để bơm nước máy lên bồn chứa trên sân thượng.

CÁCH CHỌN MÁY BƠM NƯỚC TỐT NHẤT?

Để có thể chọn được loại máy bơm nước tốt nhất thì các gia đình nhất định phải ghi nhớ những điều này.

1. Chọn máy bơm tùy vào nhu cầu sử dụng

Điều đầu tiên cần quan tâm là chọn được sản phẩm phù hợp với nhu cầu sử dụng của gia đình. Bạn chỉ cần liệt kê lại những việc cần dùng đến máy bơm nước, nhu cầu sử dụng máy bơm nước nhiều hay ít để chọn sản phẩm phù hợp.

Nếu gia đình ít người thì bạn có thể chọn máy bơm nước ly tâm bình thường để đáp ứng nhu cầu của gia đình. Còn gia đình đông thành viên, bơm nước nên nhà cao tầng thì chọn máy bơm nước chân không sẽ phù hợp hơn.

2. Quan tâm đến chất liệu máy bơm

Máy bơm nước tiếp xúc thường xuyên với nước và không khí bên ngoài nên dễ bị oxy hóa nếu tiếp xúc với nồng độ axit cao. Vì thế khi mua máy bơm nước bạn hãy chọn loại máy được làm từ gang, thép đúc không rỉ sẽ luôn đảm bảo chất lượng, độ bền kh sử dụng.

3. Công suất của máy bơm

Chọn máy bơm có công suất cao thì hiệu suất sử dụng tốt. Khi mua máy bơm bạn nên xem kí hiệu theo đơn vị P, W, KW, hay HP các thông số để biết được mức độ tiêu thụ điện của sản phẩm.

cong-suat-may-bom-nuoc

Trong đó W và KW là đơn vị phổ biến nhất, một số máy bơm sử dụng đơn vị  HP- đơn vị tính bằng mã lực. Theo quy tắc đổi đơn vị đo lường thì 1HP bằng 0,74KW tức là 740W. Có hai loại công suất chính là: Công suất có tải và công suất không tải.

4. Nguồn điện máy bơm

Trên thị trường có rất nhiều loại máy bơm khác nhau với nguồn điện đầu vào khác nhau. Vì thế chọn máy bơm nước rồi chọn được nguồn điện phù hợp là rất cần thiết. Loại máy bơm sử dụng điện 220v/50Hz là loại phổ biến nhất.

Còn loại máy bơm sử dụng điện áp 110V/220V và 3 pha sử dụng phổ biến trong sản xuất, cần có bộ biến áp đi kèm để tránh xảy ra chập cháy.

5. Loại nước để bơm

Hầu hết bơm ly tâm sinh hoạt bình thường là sử dụng trong điều kiện nước sạch. Vì thế nếu nước bẩn, nhiều bùn thì máy sẽ không hoạt động. Vì thế bạn nên tùy vào nhu cầu, mục đích sử dụng để chọn sản phẩm phù hợp.

6. Quan tâm đến chính sách bảo hành

Khi sử dụng máy bơm sẽ không tránh khỏi những lúc rủi ro, sự cố. Vì thế bạn nên mua máy bơm ở những nhà phân phối uy tín, để sản phẩm chất lượng cao, giá tốt, trong quá trình sử dụng yên tâm hơn.

7. Giá của sản phẩm

Khi mua máy bơm nước bạn cũng phải quan tâm đến giá của sản phẩm. Điều này phải phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng, ngân sách của gia đình để tìm kiếm loại máy phù hợp nhất.

MUA MÁY BƠM NƯỚC GIA ĐÌNH HÃNG NÀO TỐT NHẤT?

Trên thị trường có rất nhiều hãng máy bơm khác nhau, bạn hãy tham khảo những thông tin dưới đây để chọn ra sản phẩm phù hợp nhất.

1. Máy bơm nước Panasonic

Đây là thương hiệu đồ gia dụng nổi tiếng, luôn được sự tin tưởng của khách hàng.  Sản phẩm chất lượng cao, ứng dụng công nghệ hàng đầu vào sản xuất.

may-bom-nuoc-hang-panasonic

Ưu điểm chính của máy bơm nước Panasonic là thiết kế tinh tế, công suất khá lớn từ 125W đến  350W. Với sản phẩm máy bơm nước cao tầng thì có thể tải nước lên đến 30m và độ hút sâu 9m.

Thương hiệu Panasonic chủ yếu sản xuất 2 loại máy bơm đẩy cao và máy bơm tăng áp với rất nhiều mức giá khác nhau. Máy hoạt động rất ổn định, không gây tiếng ồn. Thời gian bảo hành máy bơm nước Panasonic lên tới 12 tháng.

2. Máy bơm nước Poco

Poco là thương hiệu đã có lịch sử thành lập và phát triển hơn 20 năm. Sản phẩm máy bơm nước Poco đã được nhiều người tiêu dùng tại Việt Nam lựa chọn.

may-bom-nuoc-poco

Máy bơm nước Poco bao gồm máy bơm áp lực cao và máy bơm áp tự động. Giá dao động của máy bơm nước Poco ở tầm trung chỉ khoảng 1.500.000 đến 3.000.000đ.

Ưu điểm của máy bơm nước Poco là động cơ mạnh từ 1hp cho đến 20hp với lực hút mạnh, hút sâu phục vụ tốt cho nhu cầu sử dụng của gia đình.

3. Máy bơm nước Pentax

may-bom-nuoc-pentax

Pentax là thương hiệu nổi tiếng của Ý. Máy bơm nước Pentax được thiết kế bắt mắt, màu xanh độc đáo, mẫu mã và công suất đa dạng. Máy có khả năng chịu nhiệt, chịu va đập, chịu lực tốt hoạt động bền bỉ. Tuy nhiên, máy bơm nước Pentax có mức giá khá cao.

4. Máy bơm nước Ebara

may-bom-nuoc-hang-ebara

Ebara là một trong những hãng máy bơm nổi tiếng thế giới. Ưu điểm của máy bơm nước Ebana là thiết kế tinh tế, công suất lớn, thân máy được làm từ Inox cao cấp, có độ bền cao. Một số Model bán chạy có thể kể đến là máy bơm Ebara – Model CDX/CDXM; Ebara – Model 2CDX/2CDXM.

5. Máy bơm nước Hanil

may-bom-nuoc-hanil

Hanil có nguồn gốc xuất xứ từ Hàn Quốc. Ưu điểm của máy bơm nước Hanil là hoạt động êm ái, bền bỉ đặc biệt giá khá rẻ so với những thương hiệu khác từ 1 triệu đồng đến 5 triệu đồng.  Bạn có thể chọn model Hanil PH 1588w bởi công suất lớn, cấp nước đầy đủ cho nhà cao tầng từ 6 đến 11 tầng.

6. Máy bơm nước hãng Sena

Máy bơm nước Sena có giá rẻ, mẫu mã đa dạng nên bạn có thể chọn nhiều model khác nhau phù hợp với nhu cầu sử dụng, sở thích, mức thu nhập của gia đình.

may-bom-nuoc-sena

Sản phẩm máy bơm nước Sena có tích hợp rơ le đóng ngắt tự động bằng lực cơ học và rơ le điện tử cảm biến để bảo vệ động cơ khi người dùng tắt nguồn.

Một số model được trang bị tính năng tăng áp điện tử dễ dàng chuyển nước từ khu vực thấp lên nhà cao tầng. Máy bơm nước Sena đạt tiêu chuẩn ISO 9001:2008, máy được bình chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao.

CÁCH LẮP ĐẶT MÁY BƠM NƯỚC GIA ĐÌNH

Lắp máy bơm nước đúng cách sẽ giúp máy vận hành tốt hơn và kéo dài tuổi thọ của sản phẩm. Vì thế trước khi lắp máy bơm nước gia đình bạn hãy ghi nhớ điều này:

Máy bơm nước phải lắp cùng bộ rơ le chống cạn để máy không bị cháy khi hết nước. Vì đây là một trong những nguyên nhân hàng đầu khiến máy bị cháy, nhanh hỏng khi sử dụng.

cach-lap-dat-may-bom-nuoc

Vị trí lắp đặt máy bơm nước phải đảm bảo khô ráo, thoáng mát, bằng phẳng không tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng, phải được che mưa.

Cần vẽ sơ đồ lắp đặt máy bơm hợp lí, xác định lắp nguồn điện ở gần rơ le chống cạn.

Nên phác thảo trước mô hình đặt ống chi tiết để đo đạc kích thước. Lên danh sách phụ kiện cần mua để không lãng phí.

Sau khi lắp đặt phụ kiện thì nên cắm điện để chạy thử, kiểm tra xem máy hoạt động có êm hay không.

Đây là những kinh nghiệm mua máy bơm nước gia đình loại nào tốt nhất, bạn hãy chọn ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu sử dụng của gia đình. Nếu thấy nội dung hay và hữu ích đừng quên like và share nhé.

>>> Tham khảo ngay các mẫu máy bơm nước giá tốt trên Nguyễn Kim Tại Đây

Xem thêm các bài viết sau:

Thứ Năm, 27 tháng 12, 2018

9 Bài thu hoạch Nghị quyết Trung ương 7 khoá 12 của Đảng viên

Kì họp Hội nghị Trung ương 7, khóa XII được khai mạc vào ngày 7/5/2018 (tại Hà Nội) bàn luận về nhiều vấn đề rộng lớn, vừa cơ bản vừa cấp bách, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, xã hội hàng năm. Nội dung luận đàm của Hội nghị Trung ương 7 diễn ra ngày 7/5 tập trung các chủ đề chính là: Nhân sự cấp cao, cải cách tiền lương cán bộ và bảo hiểm xã hội. Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII đã thông qua, tất cả đảng viên đều quán triệt và tham gia học tập, viết bài tổng kết, thu hoạch.

Với mục đích giúp các anh chị đảng viên có tài liệu tham khảo khi hoàn thành bản thu hoạch của mình, emeovat.com xin tổng hợp 9 mẫu bài thu hoạch nghị quyết trung ương 7 khóa 12 của đảng viên hay nhất, mới nhất, đầy đủ nhất ngay sau đây.

Bài thu hoạch nghị quyết Trung ương 7 khóa 12 của giáo viên tiểu học – Mẫu 1

ĐẢNG BỘ XÃ MỸ CHÁNH

CHI BỘ TH MỸ CHÁNH A

*

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

Mỹ Chánh, ngày 8 tháng 8 năm 2018

BÀI THU HOẠCH

Kết quả nghiên cứu, học tập quán triệt các Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 khóa XII của Đảng

—–

Họ và tên:

Chức vụ :Đảng viên

Chi bộ: Trường Tiểu học Mỹ Chánh A

Qua nghiên cứu học tập, quán triệt các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII của Đảng.

1/- Ban chấp hành Trung ương đã ban hành 3 Nghị quyết, gồm:

– Nghị quyết số 26-NQ/TW về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm.

– Nghị quyết số 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp.

– Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội”

2/- Nhận thức của bản thân về các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) về quan điểm, mục tiêu, giải pháp trong các Nghị quyết

2.1.Nghị quyết số 26-NQ/TW về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”

* Về quan điểm:

– Xây dựng đội ngũ cán bộ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trực tiếp là của các cấp ủy, tổ chức đảng mà trước hết là người đứng đầu và cơ quan tham mưu của Đảng, trong đó cơ quan tổ chức, cán bộ là nòng cốt. Phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và cơ quan truyền thông, báo chí trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó máu thịt với nhân dân; phải thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ.

– Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững.

– Thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Chuẩn hoá, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với xây dựng thể chế, tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, phát huy sáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung. Phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm minh sai phạm.

* Về mục tiêu :

Về mục tiêu cụ thể, Nghị quyết nêu rõ, đến năm 2020, thể chế hóa, cụ thể hóa Nghị quyết thành các quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ; hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực; kiên quyết xóa bỏ tệ chạy chức, chạy quyền; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên; đẩy mạnh thực hiện chủ trương bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương; Đến năm 2025, tiếp tục hoàn thiện, chuẩn hóa, đồng bộ các quy định, quy chế, quy trình về công tác cán bộ; cơ bản bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh không là người địa phương và hoàn thành ở cấp huyện. Đến năm 2030, xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp chuyên nghiệp, có chất lượng cao, có số lượng, cơ cấu hợp lý, bảo đảm sự chuyển giao thế hệ một cách vững vàng; cơ bản xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ.

* Về giải pháp:

– Nâng cao nhận thức, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên

– Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ

– Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới

-Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ

– Kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ; chống chạy chức, chạy quyền

– Phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ

– Nâng cao chất lượng công tác tham mưu, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về công tác tổ chức, cán bộ

– Một số nội dung cơ bản về công tác nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội Đảng toàn quốc

2.2. Nghị quyết số 27-NQ/TW về “Cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp”

* Về quan điểm :

– Chính sách tiền lương là một chính sách đặc biệt quan trọng của hệ thống chính sách kinh tế – xã hội. Tiền lương phải thực sự là nguồn thu nhập chính bảo đảm đời sống người lao động và gia đình người hưởng lương; trả lương đúng là đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực, tạo động lực nâng cao năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị – xã hội; thúc đẩy, nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững.

– Cải cách chính sách tiền lương phải bảo đảm tính tổng thể, hệ thống, đồng bộ, kế thừa và phát huy những ưu điểm, khắc phục có hiệu quả những hạn chế, bất cập của chính sách tiền lương hiện hành; tuân thủ nguyên tắc phân phối theo lao động và quy luật khách quan của kinh tế thị trường, lấy tăng năng suất lao động là cơ sở để tăng lương; đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; có lộ trình phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội và nguồn lực của đất nước.

– Cải cách chính sách tiền lương là yêu cầu khách quan, là nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi quyết tâm chính trị cao trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thúc đẩy cải cách hành chính; đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tinh giản biên chế; đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.

* Về mục tiêu:

– Tiếp tục điều chỉnh tăng mức lương cơ sở theo Nghị quyết của Quốc hội, bảo đảm không thấp hơn chỉ số giá tiêu dùng và phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế; không bổ sung các loại phụ cấp mới theo nghề.

– Hoàn thành việc xây dựng và ban hành chế độ tiền lương mới theo nội dung cải cách chính sách tiền lương, gắn với lộ trình cải cách hành chính, tinh giản biên chế; đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị quyết của Trung ương.

– Thực hiện điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu vùng phù hợp tình hình phát triển kinh tế – xã hội, khả năng chi trả của doanh nghiệp để đến năm 2020 mức lương tối thiểu bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ.

– Thực hiện thí điểm quản lý lao động, tiền lương đối với doanh nghiệp nhà nước theo các nội dung của Đề án cải cách chính sách tiền lương được phê duyệt.

– Năm 2021, tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức bằng mức lương thấp nhất bình quân các vùng của khu vực doanh nghiệp.

– Định kỳ thực hiện nâng mức tiền lương phù hợp với chỉ số giá tiêu dùng, mức tăng trưởng kinh tế và khả năng của ngân sách nhà nước.

* Về giải pháp:

– Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về quan điểm, mục tiêu, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong các doanh nghiệp. Nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, phương pháp, cách làm, tạo sự đồng thuận cao ở các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, người hưởng lương và toàn xã hội trong việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về chính sách tiền lương.

– Khẩn trương xây dựng và hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm, coi đây là giải pháp căn bản mang tính tiền đề để thực hiện cải cách tiền lương

– Xây dựng và ban hành chế độ tiền lương mới

– Quyết liệt thực hiện các giải pháp tài chính, ngân sách, coi đây là nhiệm vụ đột phá để tạo nguồn lực cho cải cách chính sách tiền lương

– Triển khai thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết Trung ương 6 khoá XII và các đề án đổi mới, cải cách trong các ngành, lĩnh vực có liên quan là công việc rất quan trọng để cải cách chính sách tiền lương một cách đồng bộ

– Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước

– Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội

2.3. Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội

* Về Quan điểm:

– Xây dựng đội ngũ cán bộ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trực tiếp là của các cấp ủy, tổ chức đảng mà trước hết là người đứng đầu và cơ quan tham mưu của Đảng, trong đó cơ quan tổ chức, cán bộ là nòng cốt. Phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước

– Bảo hiểm xã hội là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị – xã hội, đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất nước.

– Phát triển hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại, hội nhập quốc tế; huy động các nguồn lực xã hội theo truyền thống tương thân tương ái của dân tộc; hướng tới bao phủ toàn dân theo lộ trình phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội; kết hợp hài hòa các nguyên tắc đóng – hưởng; công bằng, bình đẳng; chia sẻ và bền vững.

– Phát triển hệ thống tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bảo đảm tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả, hiện đại, nâng cao tính hấp dẫn, củng cố niềm tin và sự hài lòng của người dân cũng như các chủ thể tham gia bảo hiểm xã hội.

* Về mục tiêu:

– Nghị quyết hướng đến mục tiêu để bảo hiểm xã hội thực sự là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, từng bước mở rộng vững chắc diện bao phủ bảo hiểm xã hội, hướng tới mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân; phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại và hội nhập quốc tế theo nguyên tắc đóng – hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững; nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát triển hệ thống thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại.

– Nghị quyết nêu rõ: Tập trung xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng; Sửa đổi quy định về điều kiện thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tối thiểu để hưởng chế độ hưu trí theo hướng linh hoạt đồng thời với việc điều chỉnh cách tính lương hưu theo nguyên tắc đóng-hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững.Thực hiện điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình; Nghị quyết đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để thực hiện các mục tiêu về bảo hiểm xã hội

* Về giải pháp:

– Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về chính sách bảo hiểm xã hội

– Hoàn thiện hệ thống pháp luật về lao động, việc làm, bảo hiểm xã hội

– Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội

– Nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

– Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội

3/- Trách nhiệm của đảng viên cần phải làm gì để triển khai, thực hiên các Nghị quyết trên

– Là một cán bộ giáo viên, tôi ý thức và quan tâm đến hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã đề ra. Bản thân cần tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân, giáo viên và học sinh những vấn đề cấp thiết mà Nghị quyết đã nêu. Bên cạnh đó, tôi cũng cần xác định rõ hơn trách nhiệm của mình đối với vận mệnh của Đảng, của dân tộc ta trong quá trình đổi mới, hoạt động hiệu lực, hiệu quả bằng những hành động cụ thể:

– Nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác giảng dạy, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội; tự học và trau dồi kiến thức kĩ năng nghiệp vụ chuyên môn; tu dưỡng đạo đức, lối sống, kĩ năng góp phần nâng cao năng lực và phẩm chất nghề nghiệp.

– Trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp, nghiên cứu tài liệu, dự các lớp bồi dưỡng chuyên môn để đạt hiệu quả cao hơn trong công tác. Luôn không ngừng học hỏi để có thể thích ứng với những thay đổi.

– Luôn khắc phục khó khăn, đoàn kết tương trợ đồng nghiệp để hoàn thành tốt công việc được giao. Thực hiện tốt quy chế dân chủ, đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực quan liêu, tham nhũn, nội quy và quy chế làm việc tại đơn vị;

-Thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, luôn phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

4/- Bản thân có kiến nghị, đề xuất giải pháp gì để thực hiện nội dung các Nghị quyết

4.1. Nghị quyết số 26-NQ/TW về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”

– Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững. Vì vậy, theo cá nhân tôi cần có các chính sách phát triển đội ngũ cán bộ có phẩm chất đạo đức,chuyên môn, năng lực tốt để góp phần xây dựng và phát triển đất nước.

– Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ, đủ sức lãnh đạo.

4.2. Nghị Quyết 27-NQ/TW về “Cải cách chính sách tiền lương:

– Xây dựng chính sách tiền lương tạo động lực nâng cao năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị – xã hội; thúc đẩy, nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững.

– Thực hiện chế độ đãi ngộ, khen thưởng xứng đáng theo năng suất lao động, tạo động lực nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, góp phần làm trong sạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.

XÁC NHẬN CỦA CHI BỘNgười viết thu hoạch

Bài thu hoạch nghị quyết Trung Ương 7 khóa XII cho giáo viên – Mẫu 2

ĐẢNG BỘ THỊ TRẤN HÒN ĐẤT

CHI BỘ TIỂU HỌC

THỊ TRẤN HÒN ĐẤT 1

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

 

BÀI THU HOẠCH
Học tập, quán triệt nội dung Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa XII của Đảng

Họ và tên: Trần Thị Hiền

Đảng viên chi bộ: Trường Tiểu học thị trấn Hòn Đất 1

Chức vụ : Đảng viên

Đơn vị công tác: Trường Tiểu học thị trấn Hòn Đất 1

Qua học tập, tiếp thu các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (Khóa XII), bản thân nhận thức và tâm đắc nhất những vấn đề cơ bản của Nghị quyết sau đây:

  1. Nhận thức về thực trạng (thành tựu, hạn chế và nguyên nhân), những điểm mới, quan điểm, mục tiêu, giải quyết trong Nghị quyết Trung ương 7, Khóa XII của Đảng:

1.1. Nhận thức về thực trạng:

Bản thân tiếp thu qua 3 chuyên đề với các nội dung mà NQ đều nêu ra những nội dung, quan điểm chỉ đạo đổi mới của Đảng về công tác cán bộ; về cải cách tiền lương và cải cách chính sách bảo hiểm. Bản thân tâm đắc nhất về chuyên đề 3: Những nội dung cơ bản của Nghị quyết 28 về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội. Cụ thể như sau:

– Những thành tựu vê cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.:

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và thực hiện chính sách an sinh xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển bền vững đất nước, thể hiện tính ưu việt, bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị – xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và người lao động đã tích cực triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo hiểm xã hội và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống pháp luật, chính sách bảo hiểm xã hội, bao gồm các chế độ hưu trí, tử tuất, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp đã từng bước được hoàn thiện, ngày càng đồng bộ, phù hợp với thực tế đất nước và thông lệ quốc tế. Chính sách bảo hiểm xã hội đã từng bước khẳng định và phát huy vai trò là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, là sự bảo đảm thay thế, hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải những rủi ro trong cuộc sống. Quỹ bảo hiểm xã hội đã trở thành quỹ an sinh lớn nhất, hoạt động theo nguyên tắc đóng – hưởng và chia sẻ giữa những người lao động cùng thế hệ và giữa các thế hệ tham gia bảo hiểm xã hội. Diện bao phủ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật, số ngườitham gia bảo hiểm xã hội ngày càng được mở rộng, số người được hưởng bảo hiểm xã hội không ngừng tăng lên. Hệ thống tổ chức bảo hiểm xã hội từng bước được đổi mới, về cơ bản đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ, phát huy được vai trò, tính hiệu quả trong xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách và quản lý Quỹ bảo hiểm xã hội. Năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội được nâng lên; việc giải quyết chế độ, chính sách cho người lao động có nhiều tiến bộ.

– Hạn chế:

Tuy nhiên, việc xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Hệ thống chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội chưa theo kịp tình hình phát triển kinh tế – xã hội, chưa thích ứng với quá trình già hoá dân số và sự xuất hiện các quan hệ lao động mới. Việc mở rộng và phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội còn dưới mức tiềm năng; độ bao phủ bảo hiểm xã hội tăng chậm; số người hưởng bảo hiểm xã hội một lần tăng nhanh. Tình trạng trốn đóng, nợ đóng, gian lận, trục lợi bảo hiểm xã hội chậm được khắc phục. Quỹ hưu trí và tử tuất có nguy cơ mất cân đối trong dài hạn. Chính sách bảo hiểm thất nghiệp chưa thực sự gắn với thị trường lao động, mới tập trung nhiều cho khu vực chính thức, chưa có chính sách phù hợp cho khu vực phi chính thức (nơi người lao động dễ bị tổn thương), còn nặng về giải quyết trợ cấp thất nghiệp, chưa chú ý thoả đáng đến các giải pháp phòng ngừa theo thông lệ quốc tế. Cơ chế quản lý, cơ chế tài chính và tổ chức bộ máy thực hiện bảo hiểm thất nghiệp còn nhiều điểm bất cập. Các chế độ bảo hiểm xã hội chưa thể hiện đầy đủ các nguyên tắc đóng – hưởng; công bằng, bình đẳng; chia sẻ và bền vững.

– Nguyên nhân của hạn chế: Những hạn chế, yếu kém nêu trên do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Một số cấp uỷ, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo thiếu quyết liệt. Năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước hiệu quả thấp; tính tuân thủ pháp luật chưa cao. Nhận thức của một bộ phận người lao động, người sử dụng lao động về vai trò, mục đích, ý nghĩa của bảo hiểm xã hội chưa đầy đủ. Hiệu lực, hiệu quả thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội còn bất cập. Công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội chưa thật sự tạo được sự tin cậy để thu hút người lao động tham gia bảo hiểm xã hội.

1.2. Những điểm mới, quan điểm, mục tiêu, giải quyết trong Nghị quyết Trung ương 7, Khóa XII của Đảng.

* Những điểm chỉ đạo mới trong Nghị quyết TW 6:

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội và quyền làm chủ của nhân dân; bám sát Cương lĩnhHiến pháp, Điều lệ và các văn kiện của Đảng trong việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; đặt trong tổng thể nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng; thực hiện đồng bộ với đổi mới kinh tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Giữ vững các nguyên tắc tổ chức, hoạt động và đề cao kỷ luật, kỷ cương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nghiêm túc thực hiện nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo việc đổi mới, sắp xếp và quản lý tổ chức bộ máy, biên chế của hệ thống chính trị. Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của Trung ương, đồng thời phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của từng cấp, từng ngành, từng địa phương; xác định rõ trách nhiệm của tập thể và cá nhân, nhất là người đứng đầu.

Bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ, liên thông; kết hợp hài hoà giữa kế thừa, ổn định với đổi mới, phát triển; gắn đổi mới tổ chức bộ máy với đổi mới phương thức lãnh đạo, tinh giản biên chế và cải cách chế độ tiền lương; cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; thu hút người có đức, có tài; bố trí đủ nguồn lực cần thiết và có cơ chế, chính sách phù hợp đối với những người chịu tác động trực tiếp trong quá trình sắp xếp.

Có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả. Lãnh đạo tập trung, thống nhất; thực hiện thường xuyên, liên tục, tích cực, mạnh mẽ, có trọng tâm, trọng điểm, có lộ trình, bước đi vững chắc, đáp ứng yêu cầu cả trước mắt và lâu dài. Những việc đã rõ, cần thực hiện thì thực hiện ngay; những việc mới, chưa được quy định, hoặc những việc đã có quy định nhưng không còn phù hợp thì mạnh dạn chỉ đạo thực hiện thí điểm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, từng bước hoàn thiện, mở rộng dần, không cầu toàn, không nóng vội; những việc chưa rõ, phức tạp, nhạy cảm, còn có ý kiến khác nhau thì tiếp tục nghiên cứu, tổng kết để có chủ trương, giải pháp phù hợp.

Thực hiện nguyên tắc một cơ quan thực hiện nhiều việc và một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm chính. Mô hình và quy mô tổ chức bộ máy phải phù hợp với tính chất, đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, địa phương.

Làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về đổi mới, sắp xếp tổ chức, bộ máy, tinh giản biên chế; tăng cường tuyên truyền, vận động, thuyết phục, tạo sự thống nhất cao trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội, không để các thế lực thù địch, các phần tử xấu lợi dụng xuyên tạc, chống phá, chia rẽ nội bộ.

* Những điểm mới, quan điểm, mục tiêu, giải quyết trong Nghị quyết Trung ương 7, Khóa XII của Đảng về chính sách bảo hiểm xã hội.

Bảo hiểm xã hội làmộttrụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị – xã hội, đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất nước.

– Phát triển hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại, hội nhập quốc tế; huy động các nguồn lực xã hội theo truyền thống tương thân tương ái của dân tộc; hướng tới bao phủ toàn dân theo lộ trình phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội; kết hợp hài hoà các nguyên tắc đóng – hưởng; công bằng, bình đẳng; chia sẻ và bền vững.

– Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài; kết hợp hài hoà giữa kế thừa, ổn định với đổi mới, phát triển và phải đặt trong mối tương quan với đổi mới, phát triển các chính sách xã hội khác, nhất là chế độ tiền lương, thu nhập, trợ giúp xã hội để mọi công dân đều được bảo đảm an sinh xã hội.

– Phát triển hệ thống tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bảo đảm tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả, hiện đại, nâng cao tính hấp dẫn, củng cố niềm tin và sự hài lòng của người dân cũng như các chủ thể tham gia bảo hiểm xã hội.

– Thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, doanh nghiệp và của mỗi người dân.

Mục tiêu về chính sách bảo hiểm xã hội:

Mục tiêu tổng quát: Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội để bảo hiểm xã hội thực sự là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, từng bước mở rộng vững chắc diện bao phủ bảo hiểm xã hội, hướng tới mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân. Phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại và hội nhập quốc tế theo nguyên tắc đóng – hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát triển hệ thống thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, tin cậy và minh bạch.

Mục tiêu cụ thể: Giai đoạn đến năm 2021:

Phấn đấu đạt khoảng 35% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chiếm khoảng 1% lực lượng lao động trong độ tuổi; khoảng 28% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp; có khoảng 45% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hằng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội; tỉ lệ giao dịch điện tử đạt 100%; thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4; giảm số giờ giao dịch giữa cơ quan bảo hiểm xã hội với doanh nghiệp đạt mức ASEAN 4; chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người tham gia bảo hiểm xã hội đạt mức 80%.

Giai đoạn đến năm 2025:Phấn đấu đạt khoảng 45% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chiếm khoảng 2,5% lực lượng lao động trong độ tuổi; khoảng 35% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp; có khoảng 55% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hằng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội; chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người tham gia bảo hiểm xã hội đạt mức 85%.

Giai đoạn đến năm 2030: Phấn đấu đạt khoảng 60% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chiếm khoảng 5% lực lượng lao động trong độ tuổi; khoảng 45% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp; khoảng 60% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hằng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội; chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người tham gia bảo hiểm xã hội đạt mức 90%.

  1. Liên hệ với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị và cá nhân.

Hiện nay chính sách bảo hiểm xã hội tại huyện Hòn Đất và tỉnh Kiên Giang cũng đang thực hiện khá hiệu quả theo đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước. Phản ánh thực chất các chế độ chính sách cho cán bộ hưu trí, cán bộ CCVCLĐ đang công tác. Các chế độ bảo hiểm như thất nghiệp, hưu trí, ốm đau…đều thực hiện thanh toán đầu đủ, đúng quy trình.

Tuy nhiên về vần còn một vài tồn tại cần khắc phục và thực hiện theo nghị quyết TW 7 đưa ra. Cụ thể như việc theo dõi cập nhật các chế độ đóng bảo hiểm của cá nhân CBCCVCLĐ vần còn bất cập, chưa chính xác, chưa kịp thời. Việc tổ chức kiểm tra chưa chặt chẽ chưa thường xuyên dẫn tới nợ bảo hiểm, lách Luật không đóng bảo hiểm nhất là ở các doanh nghiệp…

  1. Để xuất, kiến nghị các biện pháp thực hiệt ở địa phương, đơn vị và trách nhiệm cụ thể của cá nhân:

3.1. Đề xuất, kiến nghị các biện pháp thực hiện đối với địa phương, Ngành hoặc cơ quan đơn vị:

Đề nghị Bảo hiểm xã hội tăng cường công tác kiểm tra, phối hợp kiểm tra chặt chẽ thường xuyên để cặp nhật các chế độ chính sách cho CBVCLĐ đúng, chính xác, kịp thời. Thông báo kịp thời những thay đổi về chính sách bảo hiểm cho CBCCVCLĐ để kịp thời điều chỉnh.

Đề nghị cán bộ phụ trách trích nộp bảo hiểm xã hội hàng tháng, năm của đơn vị kiểm tra, rà soát chính xác các chế độ bảo hiểm của CBVC trong đơn vị tránh sai lệnh.

3.2. Trách nhiệm cụ thể của cá nhân:

Qua tiếp thu nghị quyết, bản thân là mọt đảng viên thấy rõ những quan điểm, mục tiêu, chỉ đạo mới của NQ TW 7 qua 3 chuyên đề với 3 NQ cụ thể (NQ 26, NQ 27, NQ 28) nhất là chuyên đề 3 (NQ 28) mà bản thân đã tâm đắc trong thời gian qua và định hướng trong thời gian tới. Vì vậy tôi thấy mình phải nêu cao tinh thần trách nhiệm ý thức tự giác, tinh thần đàon kết tham gia đóng góp ý kiến xây dựng cho hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội phát triển. Kiểm tra theo dõi thường xuyên các chế độ bảo hiểm của mình, của đồng nghiệp và góp ý cho cán bộ kế toán phụ trách theo dõi trích nộp bảo hiểm hàng tháng, năm, tránh thiếu sót, tránh nợ bảo hiểm… giúp cho đơn vị luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm bảo vệ quyền lợi cho CBVCLĐ trong quá trình lao động, thời gian về hưu và các chế độ bảo hiểm khác./.

XÁC NHẬN CỦA CHI BỘ………., ngày 27 tháng 7 năm 2018

Người viết thu hoạch

Trần Thị Hiền

 

Bài thu hoạch nghị quyết TW 7 khóa 12 của đảng viên là giáo viên THCS – Mẫu 3

ĐẢNG BỘ XÃ QUANG SƠN
CHI BỘ THCS
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Quang Sơn, ngày 03 tháng 7 năm 2018

 

BÀI THU HOẠCH

Kết quả học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) của Đảng

Họ và tên : Nguyễn Văn Hoan.

Chức vụ: Đảng viên.

Đơn vị công tác: Trường THCS Quang Sơn

1. Những điểm mới, quan điểm, mục tiêu, giải pháp trong các nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII)

1.1. Nghị quyết số 26-NQ/TW về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”.

Nghị quyết đặt ra mục tiêu tổng quát: Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ, đủ sức lãnh đạo đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

Về mục tiêu cụ thể, Nghị quyết nêu rõ, đến năm 2020, thể chế hóa, cụ thể hóa Nghị quyết thành các quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ; hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực; kiên quyết xóa bỏ tệ chạy chức, chạy quyền; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên; đẩy mạnh thực hiện chủ trương bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương; Đến năm 2025, tiếp tục hoàn thiện, chuẩn hóa, đồng bộ các quy định, quy chế, quy trình về công tác cán bộ; cơ bản bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh không là người địa phương và hoàn thành ở cấp huyện. Đến năm 2030, xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp chuyên nghiệp, có chất lượng cao, có số lượng, cơ cấu hợp lý, bảo đảm sự chuyển giao thế hệ một cách vững vàng; cơ bản xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ.

1.2. Nghị quyết số 27-NQ/TW về “Cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp”

Mục tiêu là xây dựng hệ thống chính sách tiền lương quốc gia một cách khoa học, minh bạch, phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập quốc tế, Nghị quyết nêu những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về quan điểm, mục tiêu, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong các doanh nghiệp. Nghị quyết chỉ rõ, khẩn trương xây dựng và hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm, coi đây là giải pháp căn bản mang tính tiền đề để thực hiện cải cách tiền lương. Xây dựng và ban hành chế độ tiền lương mới. Quyết liệt thực hiện các giải pháp tài chính, ngân sách, coi đây là nhiệm vụ đột phá để tạo nguồn lực cho cải cách chính sách tiền lương.

1.3. Nghị quyết số 28-NQ/TW về “Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội”.

Nghị quyết hướng đến mục tiêu để bảo hiểm xã hội thực sự là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, từng bước mở rộng vững chắc diện bao phủ bảo hiểm xã hội, hướng tới mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân; phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại và hội nhập quốc tế theo nguyên tắc đóng – hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững; nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát triển hệ thống thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, tin cậy và minh bạch.

Nghị quyết nêu rõ: Tập trung xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng; Sửa đổi quy định về điều kiện thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tối thiểu để hưởng chế độ hưu trí theo hướng linh hoạt đồng thời với việc điều chỉnh cách tính lương hưu theo nguyên tắc đóng-hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững. Sửa đổi, khắc phục các bất hợp lý về chế độ bảo hiểm hưu trí hiện nay theo hướng linh hoạt hơn về điều kiện hưởng chế độ hưu trí, chặt chẽ hơn trong quy định hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần, tăng tuổi nghỉ hưu bình quân thực tế của người lao động; thực hiện điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình; Nghị quyết đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để thực hiện các mục tiêu về bảo hiểm xã hội:

2. Liên hệ việc thực hiện nhiệm vụ chính trị tại cơ quan, đơn vị và đề xuất, kiến nghị các biện pháp thực hiện hiệu quả ở cơ quan, đơn vị mình

Việc học tập, quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng là khâu đầu tiên và rất quan trọng nhằm tạo ra sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân, là tiền đề vững chắc bảo đảm cho sự thành công trong tổ chức thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh. Vì vậy, học tập, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng là nhiệm vụ quan trọng, là điều kiện tiên quyết đưa chủ trương của Đảng vào cuộc sống.

Để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quán triệt học tập, triển khai thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng trong thời gian tới, tôi có những kiến nghị sau:

Một là, đổi mới nội dung, hình thức tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đối tượng, đối tượng khác nhau cần có nội dung, phương pháp truyền đạt phù hợp.

Hai là, sau mỗi đợt tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết, các cấp ủy cần chỉ đạo, theo dõi việc viết bài thu hoạch cá nhân.

Ba là, không được xem nhẹ việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch hành động.

Bốn là, tiếp tục tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết bằng hình thức trực tuyến nhằm tiết kiệm thời gian, kinh phí và mở rộng đối tượng tham gia, đồng thời bảo đảm nâng cao chất lượng thông tin, tạo sự đồng bộ, thống nhất từ trên xuống dưới.

Năm là, tăng cường công tác tuyên truyền trên báo chí và các phương tiện cổ động trực quan; đẩy mạnh giám sát, kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện chương trình hành động, đưa hoạt động này vào nền nếp.

3. Liên hệ trách nhiệm cụ thể của cá nhân

Là một Đảng viên, Giáo viên tôi ý thức và quan tâm đến từng vấn đề mà nghị quyết Hội nghị trung ương 7 đã đề ra; đặc biệt là các nội dung liên quan đến xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp.

– Nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác giảng dạy, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội; tự học và trau dồi kiến thức kĩ năng nghiệp vụ chuyên môn; tu dưỡng đạo đức, lối sống, kĩ năng góp phần nâng cao năng lực và phẩm chất nghề nghiệp.

– Bản thân tôi sẽ tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân, người thân và cán bộ những vấn đề cấp thiết mà Nghị quyết đã nêu. Xác định rõ hơn trách nhiệm của mình đối với vận mệnh của Đảng, của dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước bằng những hành động cụ thể: Cần xác định được trách nhiệm và nhiệm vụ của mình, luôn phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; Luôn học tập đổi mới theo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.

– Trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp, nghiên cứu tài liệu, dự các lớp bồi dưỡng chuyên môn để đạt hiệu quả cao hơn trong công tác. Luôn không ngừng học hỏi để có thể thích ứng với những thay đổi. Cố gắng phấn đấu trau dồi chuyên môn để có kiến thức chuyên môn sâu rộng nhằm hướng dẫn, phổ biến cho các giáo viên để toàn tập thể đạt được những kết quả tốt nhất.

– Luôn khắc phục khó khăn, đoàn kết tương trợ đồng nghiệp để hoàn thành tốt công việc được giao. Thực hiện tốt quy chế dân chủ, đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực quan liêu, tham nhũng…pháp lệnh cán bộ, công chức, nội quy và quy chế làm việc tại đơn vị;

NGƯỜI VIẾT THU HOẠCH

Nguyễn Văn Hoan

Bài thu hoạch nghị quyết TƯ 7 khóa 12 của đảng viên làm bảo hiểm xã hội – Mẫu 4

ĐẢNG BỘ BV PHCN TH

CHI BỘ 5

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

 

BÀI THU HOẠCH

Học tập, quán triệt nội dung Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7,

khóa XII của Đảng

Họ và tên:

Đảng viên chi bộ:

Chức vụ: Đảng viên

Đơn vị công tác:

Qua học tập, tiếp thu các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (Khóa XII), bản thân đã được tiếp thu qua 3 Nghị quyết đều nêu ra những nội dung, quan điểm chỉ đạo đổi mới của Đảng về công tác cán bộ; về cải cách tiền lương và cải cách chính sách bảo hiểm. Bản thân tâm đắc nhất về Nghị quyết sô 28 NQ/TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội. Cụ thể như sau:

– Những thành tựu vê cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.:

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và thực hiện chính sách an sinh xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển bền vững đất nước, thể hiện tính ưu việt, bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị – xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và người lao động đã tích cực triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo hiểm xã hội và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống pháp luật, chính sách bảo hiểm xã hội, bao gồm các chế độ hưu trí, tử tuất, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp đã từng bước được hoàn thiện, ngày càng đồng bộ, phù hợp với thực tế đất nước và thông lệ quốc tế. Chính sách bảo hiểm xã hội đã từng bước khẳng định và phát huy vai trò là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, là sự bảo đảm thay thế, hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải những rủi ro trong cuộc sống. Quỹ bảo hiểm xã hội đã trở thành quỹ an sinh lớn nhất, hoạt động theo nguyên tắc đóng – hưởng và chia sẻ giữa những người lao động cùng thế hệ và giữa các thế hệ tham gia bảo hiểm xã hội. Diện bao phủ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật, số ngườitham gia bảo hiểm xã hội ngày càng được mở rộng, số người được hưởng bảo hiểm xã hội không ngừng tăng lên. Hệ thống tổ chức bảo hiểm xã hội từng bước được đổi mới, về cơ bản đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ, phát huy được vai trò, tính hiệu quả trong xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách và quản lý Quỹ bảo hiểm xã hội. Năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội được nâng lên; việc giải quyết chế độ, chính sách cho người lao động có nhiều tiến bộ.

– Hạn chế:

Tuy nhiên, việc xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Hệ thống chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội chưa theo kịp tình hình phát triển kinh tế – xã hội, chưa thích ứng với quá trình già hoá dân số và sự xuất hiện các quan hệ lao động mới. Việc mở rộng và phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội còn dưới mức tiềm năng; độ bao phủ bảo hiểm xã hội tăng chậm; số người hưởng bảo hiểm xã hội một lần tăng nhanh. Tình trạng trốn đóng, nợ đóng, gian lận, trục lợi bảo hiểm xã hội chậm được khắc phục. Quỹ hưu trí và tử tuất có nguy cơ mất cân đối trong dài hạn. Chính sách bảo hiểm thất nghiệp chưa thực sự gắn với thị trường lao động, mới tập trung nhiều cho khu vực chính thức, chưa có chính sách phù hợp cho khu vực phi chính thức (nơi người lao động dễ bị tổn thương), còn nặng về giải quyết trợ cấp thất nghiệp, chưa chú ý thoả đáng đến các giải pháp phòng ngừa theo thông lệ quốc tế. Cơ chế quản lý, cơ chế tài chính và tổ chức bộ máy thực hiện bảo hiểm thất nghiệp còn nhiều điểm bất cập. Các chế độ bảo hiểm xã hội chưa thể hiện đầy đủ các nguyên tắc đóng – hưởng; công bằng, bình đẳng; chia sẻ và bền vững.

– Nguyên nhân của hạn chế:

Những hạn chế, yếu kém nêu trên do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Một số cấp uỷ, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo thiếu quyết liệt. Năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước hiệu quả thấp; tính tuân thủ pháp luật chưa cao. Nhận thức của một bộ phận người lao động, người sử dụng lao động về vai trò, mục đích, ý nghĩa của bảo hiểm xã hội chưa đầy đủ. Hiệu lực, hiệu quả thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội còn bất cập. Công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội chưa thật sự tạo được sự tin cậy để thu hút người lao động tham gia bảo hiểm xã hội.

* Những điểm mới, quan điểm, mục tiêu, giải quyết trong Nghị quyết Trung ương 7, Khóa XII của Đảng về chính sách bảo hiểm xã hội.

Bảo hiểm xã hội là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị – xã hội, đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất nước.

Phát triển hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại, hội nhập quốc tế; huy động các nguồn lực xã hội theo truyền thống tương thân tương ái của dân tộc; hướng tới bao phủ toàn dân theo lộ trình phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội; kết hợp hài hoà các nguyên tắc đóng – hưởng; công bằng, bình đẳng; chia sẻ và bền vững.

Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài; kết hợp hài hoà giữa kế thừa, ổn định với đổi mới, phát triển và phải đặt trong mối tương quan với đổi mới, phát triển các chính sách xã hội khác, nhất là chế độ tiền lương, thu nhập, trợ giúp xã hội để mọi công dân đều được bảo đảm an sinh xã hội.

Phát triển hệ thống tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bảo đảm tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả, hiện đại, nâng cao tính hấp dẫn, củng cố niềm tin và sự hài lòng của người dân cũng như các chủ thể tham gia bảo hiểm xã hội.

– Thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, doanh nghiệp và của mỗi người dân.

* Mục tiêu về chính sách bảo hiểm xã hội:

– Mục tiêu tổng quát:

Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội để bảo hiểm xã hội thực sự là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, từng bước mở rộng vững chắc diện bao phủ bảo hiểm xã hội, hướng tới mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân. Phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại và hội nhập quốc tế theo nguyên tắc đóng – hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát triển hệ thống thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, tin cậy và minh bạch.

– Mục tiêu cụ thể: Giai đoạn đến năm 2021:

Phấn đấu đạt khoảng 35% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chiếm khoảng 1% lực lượng lao động trong độ tuổi; khoảng 28% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp; có khoảng 45% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hằng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội; tỉ lệ giao dịch điện tử đạt 100%; thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4; giảm số giờ giao dịch giữa cơ quan bảo hiểm xã hội với doanh nghiệp đạt mức ASEAN 4; chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người tham gia bảo hiểm xã hội đạt mức 80%.

Giai đoạn đến năm 2025:Phấn đấu đạt khoảng 45% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chiếm khoảng 2,5% lực lượng lao động trong độ tuổi; khoảng 35% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp; có khoảng 55% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hằng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội; chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người tham gia bảo hiểm xã hội đạt mức 85%.

Giai đoạn đến năm 2030: Phấn đấu đạt khoảng 60% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chiếm khoảng 5% lực lượng lao động trong độ tuổi; khoảng 45% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp; khoảng 60% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hằng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội; chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người tham gia bảo hiểm xã hội đạt mức 90%.

– Liên hệ với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị và cá nhân.

Hiện nay chính sách bảo hiểm xã hội tại TP Sầm Sơn và tỉnh Thanh Hóa cũng đang thực hiện khá hiệu quả theo đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước. Phản ánh thực chất các chế độ chính sách cho cán bộ hưu trí, cán bộ CCVCLĐ đang công tác. Các chế độ bảo hiểm như thất nghiệp, hưu trí, ốm đau…đều thực hiện thanh toán đầu đủ, đúng quy trình.

Tuy nhiên về vần còn một vài tồn tại cần khắc phục và thực hiện theo nghị quyết TW 7 đưa ra. Cụ thể như việc theo dõi cập nhật các chế độ đóng bảo hiểm của cá nhân CBCCVCLĐ vần còn bất cập, chưa chính xác, chưa kịp thời. Việc tổ chức kiểm tra chưa chặt chẽ chưa thường xuyên dẫn tới nợ bảo hiểm, lách Luật không đóng bảo hiểm nhất là ở các doanh nghiệp…

– Đề xuất, kiến nghị các biện pháp thực hiện đối với địa phương, Ngành hoặc cơ quan đơn vị:

Đề nghị Bảo hiểm xã hội tăng cường công tác kiểm tra, phối hợp kiểm tra chặt chẽ thường xuyên để cặp nhật các chế độ chính sách cho CBVCLĐ đúng, chính xác, kịp thời. Thông báo kịp thời những thay đổi về chính sách bảo hiểm cho CBCCVCLĐ để kịp thời điều chỉnh.

Đề nghị cán bộ phụ trách trích nộp bảo hiểm xã hội hàng tháng, năm của đơn vị kiểm tra, rà soát chính xác các chế độ bảo hiểm của CBVC trong đơn vị tránh sai lệnh.

– Trách nhiệm cụ thể của cá nhân:

Qua tiếp thu nghị quyết, bản thân là một đảng viên thấy rõ những quan điểm, mục tiêu, chỉ đạo mới của NQ TW 7 qua 3 chuyên đề với 3 NQ cụ thể (NQ 26, NQ 27, NQ 28) nhất là chuyên đề 3 (NQ 28) mà bản thân đã tâm đắc trong thời gian qua và định hướng trong thời gian tới. Vì vậy tôi thấy mình phải nêu cao tinh thần trách nhiệm ý thức tự giác, tinh thần đòan kết tham gia đóng góp ý kiến xây dựng cho hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội phát triển. Kiểm tra theo dõi thường xuyên các chế độ bảo hiểm của mình, của đồng nghiệp và góp ý cho cán bộ kế toán phụ trách theo dõi trích nộp bảo hiểm hàng tháng, năm, tránh thiếu sót, tránh nợ bảo hiểm… giúp cho đơn vị luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm bảo vệ quyền lợi cho CBVCLĐ trong quá trình lao động, thời gian về hưu và các chế độ bảo hiểm khác./.

Sầm Sơn, ngày tháng năm 2018

Người viết thu hoạch

Bài thu hoạch nghị quyết TW 7 khóa 12 của đảng viên cán bộ xã – Mẫu 5

ĐẢNG BỘ XÃ …
CHI BỘ …
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

* …, ngày 19 tháng 7 năm 2018

 

BÀI THU HOẠCH

Học tập Nghị quyết Trung ương 7 (khoá XII)

Họ và tên: …

Chức vụ: …

Sau khi học tập Nghị quyết Trung ương 7 (khoá XII) qua sóng trực tiếp của Đài PT-TH Quảng Bình. Tôi nhận thấy:

  1. Sau khi tiếp thu Nghị quyết số 26-NQ/TW về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, bản thân tôi nhận thức như sau:

* Về thực trạng

Công tác cán bộ đã bám sát các quan điểm, nguyên tắc của Đảng, ngày càng đi vào nền nếp và đạt được những kết quả quan trọng. Đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị và sửa đổi, bổ sung nhiều quy định, quy chế để tổ chức thực hiện. Các quy trình công tác cán bộ ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch, khoa học và dân chủ hơn. Công tác đào tạo, bồi dưỡng và cập nhật kiến thức mới được quan tâm, từng bước gắn với chức danh, với quy hoạch và sử dụng cán bộ. Chủ trương luân chuyển kết hợp với bố trí một số chức danh lãnh đạo không là người địa phương đạt được kết quả bước đầu. Công tác kiểm tra, giám sát, bảo vệ chính trị nội bộ được quan tâm thực hiện có hiệu quả hơn; kỷ cương, kỷ luật được tăng cường. Việc xử lý kịp thời, nghiêm minh một số tổ chức, cá nhân vi phạm đã góp phần cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe và ngăn chặn tiêu cực, làm trong sạch một bước đội ngũ cán bộ, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Tuy nhiên, nhìn tổng thể, đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh; tình trạng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ xảy ra ở nhiều nơi; sự liên thông giữa các cấp, các ngành còn hạn chế. Tỉ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số chưa đạt mục tiêu đề ra. Thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế, yếu kém; nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế còn nhiều hạn chế. Không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện. Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược, thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm. Không ít cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu tính Đảng, lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, bị xử lý kỷ luật đảng và xử lý theo pháp luật. Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng, chạy danh hiệu, chạy tội…, trong đó có cả cán bộ cao cấp, chậm được ngăn chặn, đẩy lùi. Công tác cán bộ còn nhiều hạn chế, bất cập, việc thực hiện một số nội dung còn hình thức. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất, chưa gắn với kết quả, sản phẩm cụ thể, không ít trường hợp còn cảm tính, nể nang, dễ dãi hoặc định kiến. Quy hoạch cán bộ thiếu tính tổng thể, liên thông giữa các cấp, các ngành, các địa phương; còn dàn trải, khép kín, chưa bảo đảm phương châm “động” và “mở”. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, chưa gắn với quy hoạch và theo chức danh. Luân chuyển cán bộ và thực hiện chủ trương bố trí một số chức danh không là người địa phương, trong đó có bí thư cấp ủy các cấp còn bất cập, chưa đạt yêu cầu. Việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc. Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, “cánh hẩu” xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Công tác tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức, viên chức còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao, chưa đồng đều, có nơi còn xảy ra sai phạm, tiêu cực. Chủ trương thu hút nhân tài chậm được cụ thể hoá bằng các cơ chế, chính sách phù hợp; kết quả thu hút trí thức trẻ và người có trình độ cao chưa đạt yêu cầu. Chính sách cán bộ giữa các cấp, các ngành có mặt còn thiếu thống nhất, chưa đồng bộ; chính sách tiền lương, nhà ở và việc xem xét thi đua, khen thưởng chưa thực sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc. Phân cấp quản lý cán bộ chưa theo kịp tình hình, còn tập trung nhiều ở cấp trên. Một số chủ trương thí điểm chỉ đạo chưa quyết liệt, tổ chức thực hiện thiếu nhất quán, đồng bộ và chưa kịp thời đánh giá, rút kinh nghiệm. Việc kiểm tra, giám sát thiếu chủ động, chưa thường xuyên, còn nặng về kiểm tra, xử lý vi phạm, thiếu giải pháp hiệu quả để phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ còn bị động, chưa theo kịp tình hình, tổ chức bộ máy thiếu ổn định. Đầu tư xây dựng đội ngũ làm công tác tổ chức, cán bộ chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ; tổ chức bộ máy cơ quan tham mưu còn nhiều đầu mối, chức năng, nhiệm vụ chưa thật sự hợp lý; phẩm chất, năng lực và uy tín của không ít cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu.

Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém

– Nhận thức và ý thức trách nhiệm của một số cấp ủy, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, về cán bộ và công tác cán bộ chưa thật sự đầy đủ, sâu sắc, toàn diện. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng chưa được coi trọng đúng mức.

– Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện một số nội dung nêu trong các nghị quyết, kết luận của Trung ương về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ còn thiếu quyết liệt, chưa thường xuyên, nghiêm túc; chậm thể chế hoá, cụ thể hoá; ít kiểm tra đôn đốc và chưa có chế tài xử lý nghiêm.

– Một số nội dung trong công tác cán bộ chậm được đổi mới. Chưa có tiêu chí, cơ chế hiệu quả để đánh giá đúng cán bộ, tạo động lực, bảo vệ cán bộ và thu hút, trọng dụng nhân tài; chính sách cán bộ còn bất cập, chưa phát huy tốt tiềm năng của cán bộ. Công tác quản lý cán bộ có nơi, có lúc bị buông lỏng; chưa có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người yếu kém, uy tín thấp, không đủ sức khoẻ.

– Phân công, phân cấp, phân quyền chưa gắn với ràng buộc trách nhiệm, với tăng cường kiểm tra, giám sát và chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Chưa có biện pháp hữu hiệu để kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng chạy chức, chạy quyền và những tiêu cực trong công tác cán bộ. Thiếu chặt chẽ, hiệu quả trong phối hợp kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ chưa được đầu tư, quan tâm đúng mức.

– Chưa phát huy đầy đủ vai trò giám sát của cơ quan dân cử; giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội; thiếu cơ chế phù hợp để cán bộ, đảng viên gắn bó mật thiết với nhân dân; chưa phát huy có hiệu quả vai trò, trách nhiệm của các cơ quan truyền thông, báo chí.

– Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tham mưu về tổ chức, cán bộ còn chồng chéo, chậm được đổi mới. Chưa quan tâm đúng mức xây dựng đội ngũ làm công tác cán bộ; năng lực, phẩm chất, uy tín của một số cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Còn coi nhẹ công tác sơ kết, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học, xây dựng và phát triển lý luận về cán bộ và công tác cán bộ.

* Những điểm mới, bao gồm

Một là, Bố trí cấp ủy cấp tỉnh, huyện không phải người địa phương

Hai là, Đánh giá cán bộ thông qua khảo sát, so sánh

Ba là, Lãnh đạo cấp trên phải từng trải qua vị trí chủ chốt cấp dưới

Bốn là, Xây dựng từ chức, từ nhiệm phải trở thành nếp văn hóa

Năm là, Mở rộng thi tuyển để bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo

Sáu là, Tiến tới xóa bỏ biên chế suốt đời

Bảy là, Kiên quyết không để lọt người chạy chức, chạy quyền

Tám là, Cải cách tiền lương, nhà ở để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc

* Về quan điểm, gồm 5 quan điểm sau:

– Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững.

– Thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Chuẩn hoá, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với xây dựng thể chế, tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, phát huy sáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung. Phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm minh sai phạm.

– Tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, thường xuyên đổi mới công tác cán bộ phù hợp với tình hình thực tiễn. Xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới; thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân; đặt trong tổng thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, thu hút, trọng dụng nhân tài.

– Quán triệt nguyên tắc về quan hệ giữa đường lối chính trị và đường lối cán bộ; quan điểm giai cấp và chính sách đại đoàn kết rộng rãi trong công tác cán bộ. Xử lý hài hoà, hợp lý mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu, trong đó tiêu chuẩn là chính; giữa xây và chống, trong đó xây là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài, chống là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên; giữa đức và tài, trong đó đức là gốc; giữa tính phổ biến và đặc thù; giữa kế thừa, đổi mới và ổn định, phát triển; giữa thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân và tập thể.

– Xây dựng đội ngũ cán bộ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trực tiếp là của các cấp ủy, tổ chức đảng mà trước hết là người đứng đầu và cơ quan tham mưu của Đảng, trong đó cơ quan tổ chức, cán bộ là nòng cốt. Phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và cơ quan truyền thông, báo chí trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó máu thịt với nhân dân; phải thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ.

* Về mục tiêu cụ thể, gồm 3 giai đoạn

– Đến năm 2020: Thể chế hoá, cụ thể hoá Nghị quyết thành các quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ; Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực; kiên quyết xoá bỏ tệ chạy chức, chạy quyền; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên; Đẩy mạnh thực hiện chủ trương bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương; Hoàn thành việc xây dựng vị trí việc làm và rà soát, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ các cấp gắn với kiện toàn tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

 Đến năm 2025: Tiếp tục hoàn thiện, chuẩn hoá, đồng bộ các quy định, quy chế, quy trình về công tác cán bộ; Cơ bản bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh không là người địa phương và hoàn thành ở cấp huyện; đồng thời khuyến khích thực hiện đối với các chức danh khác; Xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và khung năng lực theo quy định.

– Đến năm 2030: Xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp chuyên nghiệp, có chất lượng cao, có số lượng, cơ cấu hợp lý, bảo đảm sự chuyển giao thế hệ một cách vững vàng; Cơ bản xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ.

* Về giải pháp

Nâng cao nhận thức, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên

Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ

Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới

Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ

Kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ; chống chạy chức, chạy quyền

Phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ

Nâng cao chất lượng công tác tham mưu, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về công tác tổ chức, cán bộ

Một số nội dung cơ bản về công tác nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội Đảng toàn quốc

  1. Sau khi tiếp thu Nghị quyết số 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, bản thân tôi nhận thức như sau:

* Về thực trạng

Chính sách tiền lương là một bộ phận đặc biệt quan trọng của hệ thống chính sách kinh tế – xã hội, liên quan trực tiếp đến các cân đối lớn của nền kinh tế, thị trường lao động và đời sống người hưởng lương, góp phần xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Nước ta đã trải qua 4 lần cải cách chính sách tiền lương vào các năm 1960, năm 1985, năm 1993 và năm 2003. Kết luận Hội nghị Trung ương 8 khoá IX về Đề án cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công giai đoạn 2003 – 2007 đã từng bước được bổ sung, hoàn thiện theo chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đại hội Đảng các khoá X, XI, XII, Kết luận Hội nghị Trung ương 6 khoá X, đặc biệt là các Kết luận số 23-KL/TW, ngày 29/5/2012 của Hội nghị Trung ương 5 và Kết luận số 63-KL/TW, ngày 27/5/2013 của Hội nghị Trung ương 7 khoá XI. Nhờ đó, tiền lương trong khu vực công của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang đã từng bước được cải thiện, nhất là ở những vùng, lĩnh vực đặc biệt khó khăn, góp phần nâng cao đời sống người lao động. Trong khu vực doanh nghiệp, chính sách tiền lương từng bước được hoàn thiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

Bên cạnh kết quả đạt được, chính sách tiền lương vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Chính sách tiền lương trong khu vực công còn phức tạp, thiết kế hệ thống bảng lương chưa phù hợp với vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo; còn mang nặng tính bình quân, không bảo đảm được cuộc sống, chưa phát huy được nhân tài, chưa tạo được động lực để nâng cao chất lượng và hiệu quả làm việc của người lao động. Quy định mức lương cơ sở nhân với hệ số không thể hiện rõ giá trị thực của tiền lương. Có quá nhiều loại phụ cấp, nhiều khoản thu nhập ngoài lương do nhiều cơ quan, nhiều cấp quyết định bằng các văn bản quy định khác nhau làm phát sinh những bất hợp lý, không thể hiện rõ thứ bậc hành chính trong hoạt động công vụ. Chưa phát huy được quyền, trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc đánh giá và trả lương, thưởng, gắn với năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả công tác của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.

Những hạn chế, bất cập nêu trên có nguyên nhân khách quan từ nội lực nền kinh tế còn yếu, chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp; tích luỹ còn ít, nguồn lực nhà nước còn hạn chế… nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Việc thể chế hoá các chủ trương của Đảng về chính sách tiền lương còn chậm, chưa có nghiên cứu căn bản và toàn diện về chính sách tiền lương trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị còn cồng kềnh; chức năng, nhiệm vụ còn chồng chéo, hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa cao. Số đơn vị sự nghiệp công lập tăng nhanh, số người hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách nhà nước còn quá lớn. Việc xác định vị trí việc làm còn chậm, chưa thực sự là cơ sở để xác định biên chế, tuyển dụng, đánh giá cán bộ, công chức, viên chức và trả lương. Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát, hệ thống thông tin thị trường lao động, tiền lương, năng lực thương lượng về tiền lương của người lao động trong ký kết hợp đồng lao động và vai trò của tổ chức công đoàn trong các thoả ước lao động tập thể còn hạn chế. Công tác hướng dẫn, tuyên truyền về chính sách tiền lương chưa tốt, dẫn đến việc xây dựng và thực hiện một số chính sách còn chưa tạo được đồng thuận cao.

* Những điểm mới, bao gồm

  • Tiếp tục tăng lương cơ sở, lương tối thiểu vùng
  • Từ 2021, lương Nhà nước bằng lương doanh nghiệp
  • Xây dựng 5 bảng lương mới theo chức vụ, vị trí việc làm
  • Bổ sung tiền thưởng trong cơ cấu tiền lương
  • Bãi bỏ hàng loạt phụ cấp và khoản chi ngoài lương
  • Không áp dụng lương công chức với nhân viên thừa hành, phục vụ
  • Tiếp tục thí điểm cơ chế tăng thu nhập cho công chức nhiều nơi
  • Nhà nước không can thiệp vào tiền lương của doanh nghiệp

* Về quan điểm chỉ đạo, gồm 5 quan điểm

– Chính sách tiền lương là một chính sách đặc biệt quan trọng của hệ thống chính sách kinh tế – xã hội. Tiền lương phải thực sự là nguồn thu nhập chính bảo đảm đời sống người lao động và gia đình người hưởng lương; trả lương đúng là đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực, tạo động lực nâng cao năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị – xã hội; thúc đẩy, nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững.

– Cải cách chính sách tiền lương phải bảo đảm tính tổng thể, hệ thống, đồng bộ, kế thừa và phát huy những ưu điểm, khắc phục có hiệu quả những hạn chế, bất cập của chính sách tiền lương hiện hành; tuân thủ nguyên tắc phân phối theo lao động và quy luật khách quan của kinh tế thị trường, lấy tăng năng suất lao động là cơ sở để tăng lương; đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; có lộ trình phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội và nguồn lực của đất nước.

– Trong khu vực công, Nhà nước trả lương cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo, phù hợp với nguồn lực của Nhà nước và nguồn thu sự nghiệp dịch vụ công, bảo đảm tương quan hợp lý với tiền lương trên thị trường lao động; thực hiện chế độ đãi ngộ, khen thưởng xứng đáng theo năng suất lao động, tạo động lực nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, góp phần làm trong sạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.

– Trong khu vực doanh nghiệp, tiền lương là giá cả sức lao động, hình thành trên cơ sở thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Nhà nước quy định tiền lương tối thiểu là mức sàn thấp nhất để bảo vệ người lao động yếu thế, đồng thời là một trong những căn cứ để thoả thuận tiền lương và điều tiết thị trường lao động. Phân phối tiền lương dựa trên kết quả lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh, bảo đảm mối quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.

– Cải cách chính sách tiền lương là yêu cầu khách quan, là nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi quyết tâm chính trị cao trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thúc đẩy cải cách hành chính; đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tinh giản biên chế; đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.

* Về mục tiêu cụ thể

(1) Từ năm 2018 đến năm 2020

  1. a) Đối với khu vực công

– Tiếp tục điều chỉnh tăng mức lương cơ sở theo Nghị quyết của Quốc hội, bảo đảm không thấp hơn chỉ số giá tiêu dùng và phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế; không bổ sung các loại phụ cấp mới theo nghề.

– Hoàn thành việc xây dựng và ban hành chế độ tiền lương mới theo nội dung cải cách chính sách tiền lương, gắn với lộ trình cải cách hành chính, tinh giản biên chế; đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị quyết của Trung ương.

  1. b) Đối với khu vực doanh nghiệp

– Thực hiện điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu vùng phù hợp tình hình phát triển kinh tế – xã hội, khả năng chi trả của doanh nghiệp để đến năm 2020 mức lương tối thiểu bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ.

– Thực hiện thí điểm quản lý lao động, tiền lương đối với doanh nghiệp nhà nước theo các nội dung của Đề án cải cách chính sách tiền lương được phê duyệt.

(2) Từ năm 2021 đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030

  1. a) Đối với khu vực công

– Từ năm 2021, áp dụng chế độ tiền lương mới thống nhất đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang trong toàn bộ hệ thống chính trị.

– Năm 2021, tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức bằng mức lương thấp nhất bình quân các vùng của khu vực doanh nghiệp.

– Định kỳ thực hiện nâng mức tiền lương phù hợp với chỉ số giá tiêu dùng, mức tăng trưởng kinh tế và khả năng của ngân sách nhà nước.

– Đến năm 2025, tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức cao hơn mức lương thấp nhất bình quân các vùng của khu vực doanh nghiệp.

– Đến năm 2030, tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức bằng hoặc cao hơn mức lương thấp nhất của vùng cao nhất của khu vực doanh nghiệp.

  1. b) Đối với khu vực doanh nghiệp

– Từ năm 2021, Nhà nước định kỳ điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng Tiền lương quốc gia. Các doanh nghiệp được thực hiện chính sách tiền lương trên cơ sở thương lượng, thoả thuận giữa người sử dụng lao động với người lao động và đại diện tập thể người lao động; Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào chính sách tiền lương của doanh nghiệp.

– Thực hiện quản lý lao động, tiền lương trong doanh nghiệp nhà nước theo phương thức khoán chi phí tiền lương gắn với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đến năm 2025 và tiến tới giao khoán nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vào năm 2030.

* Về giải pháp, gồm 7 giải pháp cơ bản:

– Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về quan điểm, mục tiêu, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong các doanh nghiệp. Nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, phương pháp, cách làm, tạo sự đồng thuận cao ở các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, người hưởng lương và toàn xã hội trong việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về chính sách tiền lương.

– Khẩn trương xây dựng và hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm, coi đây là giải pháp căn bản mang tính tiền đề để thực hiện cải cách tiền lương

– Xây dựng và ban hành chế độ tiền lương mới

– Quyết liệt thực hiện các giải pháp tài chính, ngân sách, coi đây là nhiệm vụ đột phá để tạo nguồn lực cho cải cách chính sách tiền lương

– Triển khai thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết Trung ương 6 khoá XII và các đề án đổi mới, cải cách trong các ngành, lĩnh vực có liên quan là công việc rất quan trọng để cải cách chính sách tiền lương một cách đồng bộ

– Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước

– Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội

  1. Sau khi tiếp thu Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, bản thân tôi nhận thức như sau:

* Về thực trạng

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và thực hiện chính sách an sinh xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển bền vững đất nước, thể hiện tính ưu việt, bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị – xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và người lao động đã tích cực triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo hiểm xã hội và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống pháp luật, chính sách bảo hiểm xã hội, bao gồm các chế độ hưu trí, tử tuất, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp đã từng bước được hoàn thiện, ngày càng đồng bộ, phù hợp với thực tế đất nước và thông lệ quốc tế. Chính sách bảo hiểm xã hội đã từng bước khẳng định và phát huy vai trò là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, là sự bảo đảm thay thế, hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải những rủi ro trong cuộc sống.

Quỹ bảo hiểm xã hội đã trở thành quỹ an sinh lớn nhất, hoạt động theo nguyên tắc đóng – hưởng và chia sẻ giữa những người lao động cùng thế hệ và giữa các thế hệ tham gia bảo hiểm xã hội. Diện bao phủ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật, số người tham gia bảo hiểm xã hội ngày càng được mở rộng, số người được hưởng bảo hiểm xã hội không ngừng tăng lên.

Hệ thống tổ chức bảo hiểm xã hội từng bước được đổi mới, về cơ bản đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ, phát huy được vai trò, tính hiệu quả trong xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách và quản lý Quỹ bảo hiểm xã hội. Năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội được nâng lên; việc giải quyết chế độ, chính sách cho người lao động có nhiều tiến bộ.

Tuy nhiên, việc xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Hệ thống chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội chưa theo kịp tình hình phát triển kinh tế – xã hội, chưa thích ứng với quá trình già hóa dân số và sự xuất hiện các quan hệ lao động mới. Việc mở rộng và phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội còn dưới mức tiềm năng; độ bao phủ bảo hiểm xã hội tăng chậm; số người hưởng bảo hiểm xã hội một lần tăng nhanh. Tình trạng trốn đóng, nợ đóng, gian lận, trục lợi bảo hiểm xã hội chậm được khắc phục. Quỹ hưu trí và tử tuất có nguy cơ mất cân đối trong dài hạn.

Chính sách bảo hiểm thất nghiệp chưa thực sự gắn với thị trường lao động, mới tập trung nhiều cho khu vực chính thức, chưa có chính sách phù hợp cho khu vực phi chính thức (nơi người lao động dễ bị tổn thương), còn nặng về giải quyết trợ cấp thất nghiệp, chưa chú ý thỏa đáng đến các giải pháp phòng ngừa theo thông lệ quốc tế. Cơ chế quản lý, cơ chế tài chính và tổ chức bộ máy thực hiện bảo hiểm thất nghiệp còn nhiều điểm bất cập. Các chế độ bảo hiểm xã hội chưa thể hiện đầy đủ các nguyên tắc đóng – hưởng; công bằng, bình đẳng; chia sẻ và bền vững.

Những hạn chế, yếu kém nêu trên do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Một số cấp ủy, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo thiếu quyết liệt. Năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước hiệu quả thấp; tính tuân thủ pháp luật chưa cao. Nhận thức của một bộ phận người lao động, người sử dụng lao động về vai trò, mục đích, ý nghĩa của bảo hiểm xã hội chưa đầy đủ. Hiệu lực, hiệu quả thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội còn bất cập. Công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội chưa thật sự tạo được sự tin cậy để thu hút người lao động tham gia bảo hiểm xã hội.

* Về những điểm mới, bao gồm:

Một là, đóng bảo hiểm 10 – 15 năm cũng được hưởng lương hưu

Hai là, sẽ giảm quyền lợi nếu hưởng bảo hiểm xã hội một lần

Ba là, tăng tuổi nghỉ hưu từ năm 2021

Bốn là, mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

Năm là, Thiết kế các gói bảo hiểm xã hội tự nguyện ngắn hạn

* Về Quan điểm chỉ đạo: gồm 5 quan điểm

– Bảo hiểm xã hội là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị – xã hội, đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất nước.

– Phát triển hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại, hội nhập quốc tế; huy động các nguồn lực xã hội theo truyền thống tương thân tương ái của dân tộc; hướng tới bao phủ toàn dân theo lộ trình phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội; kết hợp hài hòa các nguyên tắc đóng – hưởng; công bằng, bình đẳng; chia sẻ và bền vững.

– Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài; kết hợp hài hòa giữa kế thừa, ổn định với đổi mới, phát triển và phải đặt trong mối tương quan với đổi mới, phát triển các chính sách xã hội khác, nhất là chế độ tiền lương, thu nhập, trợ giúp xã hội để mọi công dân đều được bảo đảm an sinh xã hội.

– Phát triển hệ thống tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội bảo đảm tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả, hiện đại, nâng cao tính hấp dẫn, củng cố niềm tin và sự hài lòng của người dân cũng như các chủ thể tham gia bảo hiểm xã hội.

– Thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, doanh nghiệp và của mỗi người dân.

* Về mục tiêu cụ thể: được chia làm 3 giai đoạn

– Giai đoạn đến năm 2021: Phấn đấu đạt khoảng 35% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chiếm khoảng 1% lực lượng lao động trong độ tuổi; khoảng 28% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp; có khoảng 45% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hằng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội; tỷ lệ giao dịch điện tử đạt 100%; thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4; giảm số giờ giao dịch giữa cơ quan bảo hiểm xã hội với doanh nghiệp đạt mức ASEAN 4; chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người tham gia bảo hiểm xã hội đạt mức 80%.

– Giai đoạn đến năm 2025: Phấn đấu đạt khoảng 45% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chiếm khoảng 2,5% lực lượng lao động trong độ tuổi; khoảng 35% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp; có khoảng 55% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hằng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội; chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người tham gia bảo hiểm xã hội đạt mức 85%.

– Giai đoạn đến năm 2030: Phấn đấu đạt khoảng 60% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chiếm khoảng 5% lực lượng lao động trong độ tuổi; khoảng 45% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp; khoảng 60% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hằng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội; chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người tham gia bảo hiểm xã hội đạt mức 90%.

* Về giải pháp: gồm 5 giải pháp chính

– Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về chính sách bảo hiểm xã hội

– Hoàn thiện hệ thống pháp luật về lao động, việc làm, bảo hiểm xã hội

– Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội

– Nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

– Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội

  1. Liên hệ về trách nhiệm cá nhân

– Tuyên truyền sâu rộng trong toàn thể cán bộ viên chức của đơn vị và nhân dân về tầm quan trọng đặc biệt của các nghị quyết của hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành TW Đảng khóa XII.

– Nâng cao nhận thức của cán bộ viên chức trong đơn vị trong việc học tập, tiếp thu nghị quyết để vận dụng vào công việc của đơn vị.

– Triển khai thực hiện có hiệu quả các nội dung của nghị quyết bằng các kế hoạch, bước đi cụ thể

– Tổng kết, rút kinh nghiệm hàng tháng, hàng quý, hàng năm trong việc triển khai thực hiện nghị quyết.

Người viết thu hoạch

Bài thu hoạch Nghị quyết Trung Ương 7 khóa XII của Đảng viên là Giáo Viên – Mẫu 6

BÀI THU HOẠCH

Kết quả học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) của Đảng

Họ và tên: Nguyễn Tiến Hải

Chức vụ: Đảng viên

Chi bộ: Trường THTT Phố Mới

Qua học tập các nội dung của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII bản thân đã nhận thức được những vấn đề cơ bản của Nghị quyết như sau:

1. Nghị quyết số 26-NQ/TW về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm.

Nội dung Nghị quyết số 26-NQ/TW là đề án lớn, rất khó và rất quan trọng. Việc xây dựng đề án lần này giống như việc chuẩn bị cho một Chiến lược cán bộ thời kỳ mới, thay thế Chiến lược cũ ra đời cách đây 20 năm. Mục tiêu đến năm 2030 xây dựng được đội ngũ cán bộ, nhất là cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng, cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ, đủ sức lãnh đạo đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng XHCN.

Nghị quyết số 26-NQ/TW đưa ra giải pháp nhằm thực hiện nhất quán việc bố trí bí thư cấp uỷ cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương; khuyến khích thực hiện đối với các chức danh khác, nhất là chức danh chủ tịch UBND. Đề án cũng xác định việc kiểm soát quyền lực, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ là khâu đột phá. Cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra các cấp tăng cường kiểm tra dấu hiệu vi phạm của cấp dưới và kịp thời xử lý.

Đặc biệt chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ gắn với việc học tập và làm việc theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh; đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, bí thư cấp ủy các cấp; kiểm soát, quản lý tốt đội ngũ cán bộ…

2, Nghị quyết số 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp.

Việc cải cách chính sách tiền lương nhằm sớm xây dựng hệ thống chính sách tiền lương quốc gia khoa học, minh bạch, phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, tạo động lực giải phóng sức sản xuất, nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực; góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phòng, chống tham nhũng, lãng phí; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Hội nghị trung ương 7 khóa 12 tập trung xây dựng 2 đề án riêng, gồm đề án cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp và đề án cải cách chính sách BHXH, nhưng có tính tương quan lẫn nhau.

3, Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội”.

Về cải cách chính sách BHXH, Nghị quyết số 28-NQ/TW. Phát triển hệ thống chính sách BHXH linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại và hội nhập quốc tế theo nguyên tắc “đóng – hưởng”, “công bằng”, “bình đẳng”, “chia sẻ” và “bền vững”…

Bảo hiểm xã hội là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị – xã hội, đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất nước.

Người làm bài thu hoạch

Bài thu hoạch Nghị quyết Trung ương 7 khoá 12 của Đảng viên làm về cải cách tiền lương – Mẫu 7

ĐẢNG UỶ KHỐI CÁC CƠ QUAN TỈNH

ĐẢNG ỦY (CHI BỘ)……………………………….

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

……………………, ngày … tháng … năm 2018

BÀI THU HOẠCH

sau học tập các Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XII)

—–

Họ và tên: ……………………………………………………

Đảng viên chi bộ:……………………………………………………

Chức vụ:……………………………………………………..

Đơn vị công tác:…………………………………………….

Qua học tập các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII), đồng chí hãy nêu những nhận thức của bản thân về các vấn đề sau đây:

1. Những điểm mới, quan điểm, mục tiêu, giải pháp trong các nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII)

1.1. Nghị quyết số 26-NQ/TW về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”.

Nghị quyết đặt ra mục tiêu tổng quát: Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ, đủ sức lãnh đạo đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

Về mục tiêu cụ thể, Nghị quyết nêu rõ, đến năm 2020, thể chế hóa, cụ thể hóa Nghị quyết thành các quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ; hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực; kiên quyết xóa bỏ tệ chạy chức, chạy quyền; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên; đẩy mạnh thực hiện chủ trương bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương; hoàn thành việc xây dựng vị trí việc làm và rà soát, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ các cấp gắn với kiện toàn tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Đến năm 2025, tiếp tục hoàn thiện, chuẩn hóa, đồng bộ các quy định, quy chế, quy trình về công tác cán bộ; cơ bản bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh không là người địa phương và hoàn thành ở cấp huyện; đồng thời khuyến khích thực hiện đối với các chức danh khác; xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và khung năng lực theo quy định.

Đến năm 2030, xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp chuyên nghiệp, có chất lượng cao, có số lượng, cơ cấu hợp lý, bảo đảm sự chuyển giao thế hệ một cách vững vàng; cơ bản xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ.

Để xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, Nghị quyết đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Đó là nâng cao nhận thức, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên; tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ; kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ; chống chạy chức, chạy quyền; phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ; nâng cao chất lượng công tác tham mưu, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về công tác tổ chức, cán bộ; một số nội dung cơ bản về công tác nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội Đảng toàn quốc. Đồng thời nhằm thực hiện tốt các nhóm nhiệm vụ giải pháp nêu trên, Nghị quyết đã xác định hai trọng tâm và năm đột phá.

1.2. Nghị quyết số 27-NQ/TW về “Cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp”

Mục tiêu là xây dựng hệ thống chính sách tiền lương quốc gia một cách khoa học, minh bạch, phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập quốc tế, xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ; tạo động lực giải phóng sức sản xuất, nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực; góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phòng, chống tham nhũng, lãng phí; bảo đảm đời sống của người hưởng lương và gia đình người hưởng lương, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Nghị quyết nêu những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về quan điểm, mục tiêu, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong các doanh nghiệp. Nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, phương pháp, cách làm, tạo sự đồng thuận cao ở các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, người hưởng lương và toàn xã hội trong việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về chính sách tiền lương.

Nghị quyết chỉ rõ, khẩn trương xây dựng và hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm, coi đây là giải pháp căn bản mang tính tiền đề để thực hiện cải cách tiền lương. Xây dựng và ban hành chế độ tiền lương mới. Quyết liệt thực hiện các giải pháp tài chính, ngân sách, coi đây là nhiệm vụ đột phá để tạo nguồn lực cho cải cách chính sách tiền lương. Triển khai thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết Trung ương 6 khoá XII và các đề án đổi mới, cải cách trong các ngành, lĩnh vực có liên quan là công việc rất quan trọng để cải cách chính sách tiền lương một cách đồng bộ. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội.

1.3. Nghị quyết số 28-NQ/TW về “Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội”.

Nghị quyết hướng đến mục tiêu để bảo hiểm xã hội thực sự là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, từng bước mở rộng vững chắc diện bao phủ bảo hiểm xã hội, hướng tới mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân; phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại và hội nhập quốc tế theo nguyên tắc đóng – hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững; nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát triển hệ thống thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, tin cậy và minh bạch.

Nghị quyết xác định thực hiện đồng bộ các nội dung cải cách để mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, hướng tới mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân; bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm xã hội trong dài hạn, điều chỉnh lương hưu độc lập tương đối trong mối tương quan với tiền lương của người đang làm việc, thay đổi cách thức điều chỉnh lương hưu theo hướng chia sẻ.

Nghị quyết nêu rõ: Tập trung xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng; Sửa đổi quy định về điều kiện thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tối thiểu để hưởng chế độ hưu trí theo hướng linh hoạt đồng thời với việc điều chỉnh cách tính lương hưu theo nguyên tắc đóng-hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững. Mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sang các nhóm đối tượng khác; Tăng cường sự liên kết, hỗ trợ giữa các chính sách bảo hiểm xã hội cũng như tính linh hoạt của các chính sách nhằm đạt được mục tiêu mở rộng diện bao phủ. Cải cách trong xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách nhằm củng cố niềm tin, tăng mức độ hài lòng của người tham gia vào hệ thống bảo hiểm xã hội; đẩy nhanh quá trình gia tăng số lao động tham gia bảo hiểm xã hội trong khu vực phi chính thức.

Sửa đổi, khắc phục các bất hợp lý về chế độ bảo hiểm hưu trí hiện nay theo hướng linh hoạt hơn về điều kiện hưởng chế độ hưu trí, chặt chẽ hơn trong quy định hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần, tăng tuổi nghỉ hưu bình quân thực tế của người lao động; thực hiện điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình; Sửa đổi các quy định về mức đóng, căn cứ đóng bảo hiểm xã hội để đạt mục tiêu mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội; điều chỉnh tỷ lệ tích lũy để đạt tỷ lệ hưởng lương hưu tối đa phù hợp với thông lệ quốc tế; đa dạng hóa danh mục, cơ cấu đầu tư Quỹ Bảo hiểm xã hội theo nguyên tắc an toàn, bền vững, hiệu quả. Thực hiện điều chỉnh lương hưu độc lập tương đối trong mối tương quan với tiền lương của người đang làm việc, thay đổi cách thức điều chỉnh lương hưu theo hướng chia sẻ.

Nghị quyết đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để thực hiện các mục tiêu về bảo hiểm xã hội: tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về chính sách bảo hiểm xã hội; hoàn thiện hệ thống pháp luật về lao động, việc làm, bảo hiểm xã hội; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội; nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội.

2. Liên hệ việc thực hiện nhiệm vụ chính trị tại cơ quan, đơn vị và đề xuất, kiến nghị các biện pháp thực hiện hiệu quả ở cơ quan, đơn vị mình Việc học tập, quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng là khâu đầu tiên và rất quan trọng nhằm tạo ra sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân, là tiền đề vững chắc bảo đảm cho sự thành công trong tổ chức thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh. Vì vậy, học tập, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng là nhiệm vụ quan trọng, là điều kiện tiên quyết đưa chủ trương của Đảng vào cuộc sống.

Để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quán triệt học tập, triển khai thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng trong thời gian tới, tôi có những kiến nghị sau:

Một là, đổi mới nội dung, hình thức tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đối tượng, đối tượng khác nhau cần có nội dung, phương pháp truyền đạt phù hợp. Đối với cán bộ chủ chốt cần đi sâu phân tích những nội dung, những điểm mới của nghị quyết gắn với liên hệ thực tiễn của địa phương, đơn vị; cần đề cao phương pháp tự nghiên cứu, tăng cường trao đổi, thảo luận và quán triệt những vấn đề có liên quan đến quan điểm, lý luận gắn với thực tiễn mà nghị quyết đặt ra.

Hai là, sau mỗi đợt tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết, các cấp ủy cần chỉ đạo, theo dõi việc viết bài thu hoạch cá nhân nhằm tránh việc sao chép hình thức hoặc đối phó.

Ba là, không được xem nhẹ việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch hành động. Cần đầu tư công sức, trí tuệ, huy động các nguồn lực để chương trình, kế hoạch hành động thực hiện nghị quyết ở các cấp, ngành, địa phương, đơn vị thực sự sát hợp, khả thi, cụ thể hóa bằng các chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, nguồn lực, đồng thời có sự phân công trách nhiệm và quy định thời gian thực hiện cụ thể, tránh chung chung; thường xuyên đôn đốc, giám sát, kiểm tra kết quả thực hiện, kịp thời uốn nắn những sai trái, lệch lạc, bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp.

Bốn là, tiếp tục tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết bằng hình thức trực tuyến nhằm tiết kiệm thời gian, kinh phí và mở rộng đối tượng tham gia, đồng thời bảo đảm nâng cao chất lượng thông tin, tạo sự đồng bộ, thống nhất từ trên xuống dưới.

Năm là, tăng cường công tác tuyên truyền trên báo chí và các phương tiện cổ động trực quan; đẩy mạnh giám sát, kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện chương trình hành động, đưa hoạt động này vào nền nếp. Lấy việc thực hiện kiểm tra chương trình hành động và thể chế hóa nghị quyết làm trọng tâm.

3. Liên hệ trách nhiệm cụ thể của cá nhân

Là một Đảng viên, tôi ý thức và quan tâm đến từng vấn đề mà nghị quyết hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã đề ra. Bản thân cần tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân những vấn đề cấp thiết mà Nghị quyết đã nêu. Bên cạnh đó, tôi cũng cần xác định rõ hơn trách nhiệm của mình đối với vận mệnh của Đảng, của dân tộc ta trong quá trình đổi mới. Theo đó, tôi sẽ:

  • Quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Trung thành với nền tảng tư tưởng của Ðảng.
  • Quán triệt và thực hiện nghiêm Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ.
  • Thực hiện nghiêm túc chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị và cập nhật kiến thức mới cho cán bộ
  • Kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc; mở rộng các hình thức tuyên truyền, nhân rộng những điển hình tiên tiến, những cách làm sáng tạo, hiệu quả.
  • Tăng cường công tác học tập chính trị, tư tưởng, nâng cao đạo đức cách mạng, trong đó chú trọng nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, truyền thống lịch sử, văn hoá của dân tộc; kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo với rèn luyện trong thực tiễn và đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
  • Tiếp thu chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, hiểu rõ sự cần thiết, lợi ích, vai trò, ý nghĩa và những nội dung cơ bản của cải cách chính sách bảo hiểm xã hội đối với bảo đảm an sinh xã hội, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
  • Nhận thức đúng đắn về quan điểm, mục tiêu, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong các doanh nghiệp.

Người viết thu hoạch

(Ký, ghi rõ họ và tên)

 

Tiếp theo Nghị quyết Trung ương 4 khoá 12, Nghị quyết Trung ương 5 khoá 12, Nghị quyết Trung ương 6 khoá 12, việc học tập Nghị quyết trung ương 7 khoá XII sẽ giúp các Đảng viên hiểu rõ được đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước. Nội dung của 3 nghị quyết về công tác cán bộ, cải cách chính sách tiền lương và cải cách chính sách bảo hiểm xã hội là những vấn đề lớn, quan trọng, liên quan đến sự phát triển, đổi mới của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội.

Bên cạnh bài thu hoạch nghị quyết Trung ương 7 khoá 12 còn có bài thu hoạch bồi dưỡng chính trị hè. Đảng viên, giáo viên, cán bộ công nhân viên chức cũng cần chuẩn bị học tập các nghị quyết được đưa ra trong hội nghị Trung ương 7 khoá 12 để hoàn thành bài thu hoạch chính trị hè 2018 sắp tới.

Bài thu hoạch Nghị quyết Trung ương 7 khoá 12 cho Đảng viên – Mẫu 8

ĐẢNG ỦY ………………………….                ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

CHI (ĐẢNG) BỘ…………………..

BÀI THU HOẠCH

dùng cho cán bộ, đảng viên tham gia học tập Nghị quyết

Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII)

Họ và tên: ………………………………….………….……………

Đảng viên chi bộ: ………………………….……………………….

Chức vụ: …………………………………………………………….

Đơn vị công tác: ……………………………………………………

Câu hỏi: Qua học tập Nghị quyết TW7 khóa XII bản thân đồng chí tâm đắc nhất những nội dung nào? Vì sao? Theo đồng chí ở vị trí công tác của mình cần làm gì để góp phần thực hiện thành công nội dung hội nghị Trung ương 7 khoá 12?

Trả lời:

Hội nghị trung ương 7 khoá 12 đã thảo luận cho ý kiến về các nội dung quan trọng gồm: Đề án về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Đề án về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp; Đề án về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.

Theo đó, có 3 nghị quyết đã được thông qua tại Hội nghị trung ương 7 khoá 12, đó là:

Nghị quyết số 28-NQ/TW cải cách chính sách bảo hiểm xã hội

Nghị quyết số 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương

Nghị quyết 26-NQ/TW về công tác cán bộ

Sau khi học tập, quán triệt nội dung nghị quyết trung ương 7 khoá XII, bản thân đồng chí cảm thấy tâm đắc nhất với nội dung về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp của nghị quyết 27-NQ/TW. Vì chính sách tiền lương là một bộ phận đặc biệt quan trọng của hệ thống chính sách kinh tế – xã hội, liên quan trực tiếp đến các cân đối lớn của nền kinh tế, thị trường lao động và đời sống người hưởng lương, góp phần xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Có thể thấy cải cách chính sách tiền lương đối với công chức, viên chức và lực lượng vũ trang có nhiều nội dung cải cách mới.

Trước hết là việc bãi bỏ hệ thống bảng lương hiện nay được coi là quá phức tạp, chưa phù hợp với vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo mang tính bình quân, cào bằng bằng các bảng lương mới đơn giản và phù hợp hơn, chuyển xếp lương cũ sang lương mới bảo đảm không thấp hơn mức lương hiện hưởng.

Về nội dung cải cách đối với khu vực công, Nghị quyết số 27-NQ/TW yêu cầu thiết kế cơ cấu tiền lương mới gồm: Lương cơ bản (chiếm khoảng 70% tổng quỹ lương) và các khoản phụ cấp (chiếm khoảng 30% tổng quỹ lương). Bổ sung tiền thưởng (quỹ tiền thưởng bằng khoảng 10% tổng quỹ tiền lương của năm, không bao gồm phụ cấp).

Bên cạnh đó, xây dựng, ban hành hệ thống bảng lương mới theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo thay thế hệ thống bảng lương hiện hành; Chuyển xếp lương cũ sang lương mới, bảo đảm không thấp hơn tiền lương hiện hưởng.

Với nghị quyết, đảm bảo tiền lương khu vực công sẽ tiệm cận dần và không chênh lệch với tiền lương khu vực doanh nghiệp để khu vực nhà nước có thể thu hút được nhân lực chất lượng cao với chế độ tiền lương thỏa đáng.

Đề xuất, kiến nghị những giải pháp để tổ chức thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII)

Ban Chấp hành Trung ương yêu cầu xây dựng và hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực và chống tệ chạy chức, chạy quyền, thân quen, cánh hẩu, lợi ích nhóm trong công tác cán bộ theo nguyên tắc mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế và quyền hạn phải được ràng buộc với trách nhiệm.

Phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức, cá nhân vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, lạm dụng, lợi dụng quyền lực để thực hiện những hành vi sai trái trong công tác cán bộ hoặc tiếp tay cho tệ chạy chức, chạy quyền.

Kiên quyết hủy bỏ, thu hồi các quyết định không đúng về công tác cán bộ, đồng thời xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân sai phạm, có hành vi tham nhũng trong công tác cán bộ. Cụ thể hóa để thực hiện có hiệu quả cơ chế dân biết, dân bàn, dân giám sát công tác cán bộ; mở rộng các hình thức lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với từng đối tượng cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị một cách phù hợp.

Tổng Bí thư chỉ rõ: “Để thực hiện có kết quả Nghị quyết, tất cả chúng ta, từ trên xuống dưới, đều phải có quyết tâm rất lớn, có sự thống nhất rất cao, lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, quyết liệt, nói đi đôi với làm, làm cho Nghị quyết lần này thực sự đi vào cuộc sống, tạo chuyển biến rõ rệt, thu được kết quả cụ thể, cán bộ, đảng viên và nhân dân nhìn thấy được, cảm nhận được. Trong nửa cuối của nhiệm kỳ Khóa XII, cố gắng phấn đấu hoàn thành một bước việc thể chế hóa, cụ thể hóa Nghị quyết thành các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ theo quy hoạch, phù hợp với tình hình thực tế; từng bước thực hiện việc bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương; hoàn thành việc rà soát, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ các cấp gắn với kiện toàn tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đồng thời, làm tốt công tác chuẩn bị nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Tập trung xây dựng Ban Chấp hành Trung ương theo hướng nâng cao chất lượng, có số lượng và cơ cấu hợp lý. Chủ động chuẩn bị nhân sự, xây dựng các cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước và các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư thực sự tiêu biểu về trí tuệ và gương mẫu về đạo đức, lối sống. Xây dựng tiêu chuẩn và có kế hoạch, biện pháp đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách đối với các Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng.

Liên hệ trách nhiệm của bản thân

Là một Đảng viên, tôi ý thức và quan tâm đến từng vấn đề mà nghị quyết hội nghị Trung ương 7 khóa 12 đã đề ra. Bản thân cần tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân những vấn đề cấp thiết mà Nghị quyết đã nêu. Bên cạnh đó, tôi cũng cần xác định rõ hơn trách nhiệm của mình đối với vận mệnh của Đảng, của dân tộc ta trong quá trình đổi mới. Theo đó, tôi sẽ:

  • Quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;
  • Quán triệt và thực hiện nghiêm Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ.
  • Kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc; mở rộng các hình thức tuyên truyền, nhân rộng những điển hình tiên tiến, những cách làm sáng tạo, hiệu quả.
  • Tăng cường công tác học tập chính trị, tư tưởng, nâng cao đạo đức cách mạng, trong đó chú trọng nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, truyền thống lịch sử, văn hoá của dân tộc; kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo với rèn luyện trong thực tiễn và đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
  • Thực hiện nghiêm túc chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị và cập nhật kiến thức mới.

Người viết thu hoạch

(Ký, ghi rõ họ và tên)

Bài thu hoạch Nghị quyết Trung ương 7 khoá 12 cho Đảng viên – Mẫu 9

BÀI THU HOẠCH

Kết quả học tập, quán triệt các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) của Đảng

Qua 1,5 ngày học tập,quán triệt các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa XII của Đảng, đề nghị các đồng chí làm rõ một số gợi ý sau:

  1. Phân tích làm rõ nhận thức sâu sắc nhất cá nhân về những nội dung căn bản ,cốt lỗi, những điểm mới ,quan điểm,mục tiêu, giải pháp trong các nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa XII của Đảng.

Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã thông qua các Nghị quyết quan trọng sau đây:

Nghị quyết số 26-NQ/TW về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm. Nghị quyết số 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viênchức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp.

Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội”. Nội dung Nghị quyết số 26-NQ/TW là đề án lớn, rất khó và rất quan trọng. Việc xây dựng đề án lần này giống như việc chuẩn bị cho một Chiến lược cán bộ thời kỳ mới, thay thế Chiến lược cũ ra đời cách đây 20 năm.Mục tiêu đến năm 2030 xây dựng được đội ngũ cán bộ, nhất là cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng, cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ, đủ sức lãnh đạo đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng XHCN. Nghị quyết số 26-NQ/TW đưa ra giải pháp nhằm thực hiện nhất quán việc bố trí bí thưcấp uỷ cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương;khuyến khích thực hiện đối với cácchức danh khác, nhất là chức danh chủ tịch UBND. Đề án cũng xác định việc kiểm soát quyền lực, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ là khâu đột phá. Cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra các cấp tăng cường kiểm tra dấu hiệu vi phạm của cấp dưới và kịp thời xử lý. Đặc biệt chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ gắn với việc học tập và làm việc theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh; đổi mới, nâng cao chất lượng.

Nghị quyết số 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp. Việc cải cách chính sách tiền lương nhằm sớm xây dựng hệ thống chính sách tiền lương quốcgia khoa học, minh bạch, phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước, đáp ứng yêu cầu phát triểnkinh tế, tạo động lực giải phóng sức sản xuất, nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực; góp phần xây dựng hệ hệthống chính trị trong sạch, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phòng, chống tham nhũng,lãng phí; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.Hội nghị trung ương 7 khóa 12 tập trung xây dựng 2 đề án riêng, gồm đề án cải cáchchính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp và đề án cải cách chính sách BHXH nhưng có tính tương quan lẫn nhau.Về cải cách chính sách BHXH

Nghị quyết số 28-NQ/TW. Phát triển hệ thống chính sách BHXH linh hoạt, đa dạng, đa tầnghiện đại và hội nhập quốc tế theo nguyên tắc “đóng – hưởng”, “công bằng”, “bình đẳng”,”chia sẻ” và “bền vững”… Bảo hiểm xã hội là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị – xã hội, đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất nước.

2.Từ những nội dung đã được nghiên cứu, đồng chí liên hệ với thực tiển của nghành, cơ quan, đơn vị mà đồng chí công tác.

Liên hệ thực tiễn của nghành sau khi học tập Nội dung Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII.Là một Đảng viên, giáo viên tôi ý thức và quan tâm đến từng vấn đề mà nghị quyết Hội nghị trung ương 7 đã đề ra; đặc biệt là các nội dung liên quan đến xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp.Bản thân tôi sẽ tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân, người thân và cán bộ những vấn đề cấp thiết mà Nghị quyết đã nêu. Xác định rõ hơn trách nhiệm của mình đối với vận mệnh của Đảng, của dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước bằngnhững hành động cụ thể: Cần xác định được trách nhiệm và nhiệm vụ của mình, luôn phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; Luôn học tập đổi mới theo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Luôn khắc phục khó khăn, đoàn kết tương trợ đồng nghiệp để hoàn thành tốt công việc được giao.Thực hiện tốt quy chế dân chủ, đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực quan liêu, tham nhũng…pháp lệnh cán bộ, công chức, nội quy và quy chế làm việc tại đơn vị; Nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác giảng dạy, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội; tự học và trau dồi kiến thức kĩ năng nghiệp vụ chuyên môn;tu dưỡng đạo đức, lối sống, kĩ năng góp phần nâng cao năng lực và phẩm chất nghề nghiệp.Trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp, nghiên cứu tài liệu, dự các lớp bồi dưỡng chuyên môn để đạt hiệu quả cao hơn trong công tác. Luôn không ngừng học hỏi để có thể thích ứng với những thay đổi.Cố gắng phấn đấu trau dồi chuyên môn để có kiến thức chuyên môn sâu rộng nhằm hướng dẫn phổ biến cho các giáo viên để toàn tập thể đạt được những kết quả tốt nhất.

  1. Một số đề xuất, kiến nghị những giải pháp có hiệu quả để tổ chức thực hiện tốt các nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa XII của Đảng.

– Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững. Vì vậy, theo cá nhân tôi cần có các chính sách phát triển đội ngũ cán bộ có phẩm chất chuyên môn, kỹ năng tốt để góp phần xây dựng và phát triển đất nước. Thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp,toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. . Chuẩn hoá, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với xây dựng thể chế, tạo môi trường,điều kiện để thúc đẩy đổi mới, phát huy sáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm,dám đột phá vì lợi ích chung. Phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, soát quyền lực và xử lý nghiêm minh sai phạm. Xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới; thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân; đặt trong tổng thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, kiện toàn tổ hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân; đặt trong tổng thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, thu hút, trọng dụng nhân tài. – Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ, đủ sức lãnh đạo đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm2030, tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

Xây dựng chính sách tiền lương tạo động lực nâng cao năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảmổn định chính trị – xã hội; thúc đẩy, nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững.

Thực hiện chế độ đãi ngộ, khen thưởng xứng đáng theo năng suất lao động, tạo động lực nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, góp phần làm trong sạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.

  1. Ý kiến khác.

 

Người viết thu hoạch

Bài thu hoạch nghị quyết Trung ương 7 khóa 12 của Đảng viên:

ĐẢNG ỦY: CỤC ĐO ĐẠC BẢN ĐỒ

VÀ THÔNG TIN ĐỊA LÍ VIỆT NAM

CHI BỘ: TT BIÊN GIỚI VÀ ĐỊA GIỚI

*

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

Hà Nội, ngày 01 tháng 8 năm 2018

BẢN THU HOẠCH

HỌC TẬP, QUÁN TRIỆT NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ BẢY

BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG (KHÓA XII)

Họ và tên: Nguyễn Mạnh Đạt

Chức vụ Đảng, chính quyền: Đảng viên, đội phó kỹ thuật đội PGCM số 6 Việt Nam – Campuchia.

Đơn vị công tác: Trung tâm Biên giới và Địa giới

NỘI DUNG THU HOẠCH

  1. Nhận thức của bản thân về Nghị quyêt Trung ương 7 khóa XII
  1. Những nội dung cơ bản Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19/5/2018 về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”.

Nghị quyết số 26-NQ/TW đưa ra giải pháp nhằm thực hiện nhất quán việc bố trí bí thư cấp uỷ cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương; khuyến khích thực hiện đối với các chức danh khác, nhất là chức danh chủ tịch UBND. Đề án cũng xác định việc kiểm soát quyền lực, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ là khâu đột phá. Cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra các cấp tăng cường kiểm tra dấu hiệu vi phạm của cấp dưới và kịp thời xử lý.

Đặc biệt chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ gắn với việc học tập và làm việc theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh; đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, bí thư cấp ủy các cấp; kiểm soát, quản lý tốt đội ngũ cán bộ…

  1. Những nội dung cơ bản Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 21/5/2018 về “Cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp”.

Việc cải cách chính sách tiền lương nhằm sớm xây dựng hệ thống chính sách tiền lương quốc gia khoa học, minh bạch, phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, tạo động lực giải phóng sức sản xuất, nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực; góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phòng, chống tham nhũng, lãng phí; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Hội nghị trung ương 7 khóa 12 tập trung xây dựng 2 đề án riêng, gồm đề án cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp và đề án cải cách chính sách BHXH, nhưng có tính tương quan lẫn nhau.

  1. Những nội dung cơ bản Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 23/5/2018 về “Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội”.

Phát triển hệ thống chính sách BHXH linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại và hội nhập quốc tế theo nguyên tắc “đóng – hưởng”, “công bằng”, “bình đẳng”, “chia sẻ” và “bền vững”…

Bảo hiểm xã hội là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị – xã hội, đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất nước.

II. Liên hệ thực tiễn với bản thân nhiệm vụ chính trị được giao và của ngành, lĩnh vực cơ quan, đơn vị nơi công tác để triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII

Là một Đảng viên, tôi ý thức và quan tâm đến từng vấn đề mà nghị quyết Hội nghị trung ương 7 đã đề ra; đặc biệt là các nội dung liên quan đến xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp.

– Nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào công công việc của mình được giao, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội; tự học và trau dồi kiến thức kĩ năng nghiệp vụ chuyên môn; tu dưỡng đạo đức, lối sống, kĩ năng góp phần nâng cao năng lực và phẩm chất nghề nghiệp;

– Bản thân tôi sẽ tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân, người thân và cán bộ những vấn đề cấp thiết mà Nghị quyết đã nêu. Xác định rõ hơn trách nhiệm của mình đối với vận mệnh của Đảng, của dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước bằng những hành động cụ thể: Cần xác định được trách nhiệm và nhiệm vụ của mình, luôn phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; Luôn học tập đổi mới theo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước;

– Trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp, nghiên cứu tài liệu, dự các lớp bồi dưỡng chuyên môn để đạt hiệu quả cao hơn trong công tác. Luôn không ngừng học hỏi để có thể thích ứng với những thay đổi. Cố gắng phấn đấu trau dồi chuyên môn để có kiến thức chuyên môn sâu rộng nhằm hướng dẫn, phổ biến cho các thành viên để toàn tập thể đạt được những kết quả tốt nhất;

– Luôn khắc phục khó khăn, đoàn kết tương trợ đồng nghiệp để hoàn thành tốt công việc được giao. Thực hiện tốt quy chế dân chủ, đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực quan liêu, tham nhũng…pháp lệnh cán bộ, công chức, nội quy và quy chế làm việc tại đơn vị.

III. Đề xuất, kiến nghị để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII trong thời gian tới

– Cần có các chính sách phát triển đội ngũ cán bộ có phẩm chất chuyên môn, kỹ năng tốt để góp phần xây dựng và phát triển đất nước;

– Thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Chuẩn hoá, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với xây dựng thể chế, tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, phát huy sáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung. Phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm minh sai phạm;

– Xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới; thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân; đặt trong tổng thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, thu hút, trọng dụng nhân tài;

– Xây dựng chính sách tiền lương tạo động lực nâng cao năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị – xã hội; thúc đẩy, nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững;

– Thực hiện chế độ đãi ngộ, khen thưởng xứng đáng theo năng suất lao động, tạo động lực nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, góp phần làm trong sạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị;

NGƯỜI VIẾT THU HOẠCH

(ký, ghi rõ họ tên)

Câu hỏi viết bài thu hoạch nghị quyết trung ương 7 khóa 12:

ĐẢNG ỦY ………………………….           ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 CHI (ĐẢNG) BỘ…………………..

*

BÀI THU HOẠCH

dùng cho cán bộ, đảng viên tham gia học tập Nghị quyết

Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII)

Họ và tên: ………………………………….………….……………

Đảng viên chi bộ: ………………………….……………………….

Chức vụ: …………………………………………………………….

Đơn vị công tác: ……………………………………………………

Qua học tập, quán triệt các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII), đồng chí hãy nêu những nhận thức của bản thân về các vấn đề sau đây:

1. Phân tích, làm rõ thực trạng (thành tựu, hạn chế và nguyên nhân), những điểm mới, thời cơ, những khó khăn, thách thức, những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp được thể hiện trong các nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII). 

………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………

2. Đề xuất, kiến nghị những giải pháp để tổ chức thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII)

………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………

…………………………………………………….

3. Liên hệ trách nhiệm của bản thân

………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………

                    Người viết thu hoạch

                    (Ký, ghi rõ họ và tên)

Trên đây là 9 mẫu bài thu hoạch nghị quyết trung ương 7 khóa 12 của đảng viên đầy đủ nhất dành cho các đối tượng là cán bộ giáo viên (giáo viên đứng lớp và hiệu trưởng, hiệu phó), y tế, bí thư Đảng ủy và các cán bộ công chức khác. Chúc các quý vị đảng viên quán triệt tốt nghị quyết và có bài thu hoạch tâm huyết, chất lượng.